| ||||
| Thơ Song Thất Lục Bát: Sau thể thơ Lục Bát, Song Thất Lục Bát là thể thơ phổ biến nhất của Việt Nam . Bài thơ có hai câu Thất đi với câu Lục và câu Bát gọi là Song Thất Lục Bát . (Có nghĩa là hai câu 7 chữ đi với một câu 6 chữ và một câu 8 chữ theo luật định) . Luật căn bản: 1------2------3------4------5-------6-------7------8 x------x------B/T----x------B-------x-------T (V) x------x------B------x------T (V)---x-------B (v) x------B------x------T------x-------B (v) x------B------x------T------x-------B (v)---x-------B (X) x = tự do B = Bằng bắt buộc T = Trắc bắt buộc V = vần (của 2 câu Song Thất) v = vần (của 2 câu Lục Bát) B/T = chữ thứ 3 trong câu Thất 1 có thể là Bằng hoặc Trắc . X = vần để chuyển qua đoạn thơ kế tiếp Nếu là một bài thơ có nhiều đoạn liên hoàn, thì chữ cuối cùng của câu Bát sẽ vần với chữ thứ 5 của câu Thất 1 trong đoạn thơ tiếp . Luật căn bản như sau: 1------2------3------4------5-------6-------7-----8 x------x------B/T----x------B-------x-------T (V) x------x------B------x------T (V)---x-------B (v) x------B------x------T------x-------B (v) x------B------x------T------x-------B (v)---x------B (X) 1------2------3------4------5-------6-------7-----8 x------x------B/T----x------B (X)---x-------T (V) x------x------B------x------T (V)---x-------B (v) x------B------x------T------x-------B (v) x------B------x------T------x-------B (v)---x------B Để có thể nhớ ngắn gọn về luật định căn bản và bắt buộc ta có bảng rút ngắn như sau: 2------3-------4--------5--------6--------7--------8 -------B/T--------------B------------------T (V) -------B----------------T (V)--------------B (v) B--------------T------------------B (v) B--------------T------------------B (v)--------------B (X) -------B/T--------------B (X)-------------T (V) -------B----------------T (V)-------------B (v) B--------------T------------------B (v) B--------------T------------------B (v)--------------B Thơ ví dụ: Mẹ là ĐÓA hoa KIỀU diễm NHẤT Tỏa ngát TÌNH ngọt MẬT hương XUÂN Mẹ LÀ suối MÁT trong NGẦN Hát LỜI mẫu TỬ nặng ÂN tình ĐẦY Mẹ là GIÓ thổi BAY phiền MUỘN Xua mây MÙ cuồn CUỘN bão GIÔNG Mẹ LÀ nắng ẤM trời TRONG Ôi TÌNH mẫu TỬ thắm HỒNG tim NON … *** Lưu ý: Khi câu Thất có một chữ thứ ba là Bằng thì vần chuyển (X) có thể nằm vào chữ thứ 3 của câu Thất 1 trong đoạn kế tiếp . Thơ ví dụ: Trời vào THU gió LÙA hiu HẮT Lá vàng RƠI theo MẮT em TRÔNG Cội BÀNG bóng NGÃ trên SÔNG Nắng XUYÊN vào TẬN khuê PHÒNG đơn CÔI ! Anh đi RỒI bốn mùa quạnh QUẼ Phương trời NÀY có KẺ mong TIN ... Côi trong câu Bát của đoạn thứ nhất vần với Rồi, chữ thứ 3 trong câu Thất 1 của đoạn thứ hai . AT Xuân an lạc trăm hoa cười đua nở Như Tình Yêu là hơi thở trong lành Và Hạnh Phúc không chỉ tình trai gái Còn bao Tình Thân Ái ở chung quanh ![]() ... Yêu là chia một quả tim Là trao một nửa, là thêm một lần ...! |
| ||||
| ĐÔI ĐIỀU VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT *** Định Nghĩa: Còn gọi là thơ Cách Luật . Là thể thơ xuất phát từ lối thơ cổ phong (*) của Trung Hoa, được cải cách, đổi mới, bổ sung các luật lệ vào để có một thể thơ hoàn chỉnh về niêm - đối - luật - vần và những quy định khác . Trong thơ Đường chỉ có thơ luật vần Bằng mà không bao giờ co thơ luật vần Trắc . Thơ Đường có hai luật là căn bản đó là luật Bằng và luật Trắc . Có nghĩa là hễ chữ thứ 2 trong câu nhất là tiếng Bằng thì gọi luật Bằng . Chữ thứ 2 trong câu nhất là tiếng Trắc thì gọi là luật Trắc . Không nên nhầm lẫn giữa thơ Luật vần Trắc và Luật Trắc của thơ Đường . Luật Vần Trắc có nghĩa là các vần ở cuối câu chỉ thuộc thanh Trắc . Còn Luật Trắc, Luật Bằng thì đã phân tích ở trên . (*) Thơ cổ phong là lối thơ chỉ có vần mà không có niêm luật, có khi là vần bằng và có khi là vần trắc . Có khi dùng độc vận có nghĩa là bài thơ có độc nhất một vần . Có khi dùng hoán vận nghĩa là cứ mỗi đoạn 4 câu lại chuyển sang vần khác . Theo AT nghĩ thể thơ này nôm na cũng tạm gọi là thể tự do (giống thơ Việt Nam mình). Để cho dễ hiểu về luật của thơ Đường, trong những bảng luật định sẵn, dựa trên nguyên tắc và lệ bất luận, AT sẽ từng bước rút ngắn để có một bảng luật gọn gàng và dễ hiểu . *** Cấu Trúc của thơ Đường: ** Về thể loại: Trong thơ Đường luật thì thể thơ Ngũ Ngôn và Thất Ngôn được coi là phổ biến nhất, còn thơ Tứ Ngôn và Lục Ngôn rất ít người làm . ** Về câu thì phổ biến là: - Thơ 4 câu gọi là Tứ Tuyệt, người Trung Hoa gọi là Tuyệt Cú . Vì chỉ có 4 câu 20 từ hoặc 28 từ mà nói lên được đầy đủ ý tứ của một đề tài theo đúng luật của thơ Đường . - Thơ 8 câu thường gọi là Bát Cú, có nhiều qui định khá chặt chẽ, nhất là về Đối . - Loại Tứ Tuyệt Trường Thiên gồm các loại 4 câu một . Loại Trường Thiên tức là thể thơ từ 10 câu trở lên cho đến hàng 100 câu . Trên thực tế chỉ những bài dài chừng 12, 16, 20 câu là làm theo luật Thơ Đường, còn lại dài hơn đa số đều làm theo thể thơ cổ phong (thơ tự do, không theo niêm luật). 1. Niêm: Là sự gắn bó chặt chẽ với nhau về âm luật trong các câu theo hệ thống chiều dọc của bài thơ . Nghĩa là chứ thứ 2 và thứ 4 trong Ngũ ngôn; chữ thứ 2, thứ 4, và thứ 6 trong Thất ngôn mỗi câu từng đôi một : Bằng - Bằng, Trắc - Trắc theo công thức nhất định sau: a- Đối với bát cú (tám câu): NHẤT - BÁT, NHỊ - TAM, TỨ - NGŨ, LỤC - THẤT Có nghĩa là các câu : 1 niêm với 8, 2 niêm với 3, 4 niêm với 5, và 6 niêm với 7 . b- Đối với tứ tuyệt (bốn câu): NHẤT - TỨ, NHỊ - TAM Có nghĩa là: câu 1 niêm với 4, câu 2 niêm với 3 . 2. Đối: Đối trở thành một nguyên tắc bắt buộc trong thơ Đường luật . Nguyên tắc này đòi hỏi phải cân xứng cả thanh lẫn ý . - Về Thanh: Động từ đối với động từ, danh từ đối với danh từ, hư từ đối với hư từ, số từ đối với số từ, tính từ đối với tính từ, tên riêng đối với tên riêng, tự đối với tự, nôm đối với nôm ... Phải bảo đảm đúng Bằng Trắc . Nghĩa là Bằng đối với Trắc, Trắc đối với Bằng . Nếu tìm được từ đối nhau thật chuẩn thì tốt . Còn thật ra ta cần chú ý nhất ở các từ thứ 2, 4, 5 trong thơ ngũ ngôn; từ thứ 2, 4, 6, 7 trong thơ thất ngôn phải bảo đảm đúng Bằng Trắc . Vì các từ khác nằm trong lệ bất luận thì cũng châm chước và có thể chấp nhận được . - Về Ý: Trong thơ Đường thanh thường đi đôi với ý, nên khi tìm thanh phải chọn luôn cả ý, thanh và ý cân xứng thì mới xuất sắc . Trường hợp nếu muốn giữ ý thì phải hy sinh từ, cho nên điều khó khăn này cũng là giá trị nhất . *** Ngũ Ngôn: Ngũ ngôn có 5 chữ thường ngắt theo nhịp 3/2 hoặc 2/3. *** Thất Ngôn: Thất Ngôn có 7 chữ thường ngắt theo nhịp 3/4, 4/3 hay 2/5. 3. Cách bố cục, vị trí và tác dụng từng câu trong một bài bát cú (8 câu): Nói một cách chi tiết: Câu 1: Khởi Câu 2: Thừa Câu 3, 4: Thực Câu 5, 6: Luận Câu 7, 8: Kết Hay một cách tổng quát: Câu 1, 2: Đề Câu 3, 4: Thực Câu 5, 6: Luận Câu 7, 8: Kết * Câu 1- Khởi: là sự bắt đầu, mở đầu bài thơ, mở ra khái quát về đề tài của bài thơ . Mở đề rất khó, vì từ đề mà mở rộng bài thơ . Nếu gợi ý không ra, không đúng, mà mở đầu không xuôi thì cái đuôi không lọt . * Câu 2- Thừa: là nhằm mở rộng, phát triển thêm ý cho đề tài được rõ ràng và phong phú hơn . * Câu 3 và 4- Thực: là thực trạng, có nhiệm vụ diễn tả cho đề tài rõ ràng hơn về ý, cảnh, tình, vật, tính chất, ... cốt làm nổi bật đề tài trên . Vì vậy hai câu này phải gắn chặt với đề tài . Hai câu này phải ĐỐI nhau từng chữ và từng ý . * Câu 5 và 6- Luận: còn gọi là câu Hiệu, làm nhiệm vụ nhận định, bình luận vấn đề liên quan đến đề tài . Điều khó là phảI làm sao để Thực cho ra Thực, Luận cho ra Luận . Hai câu này thường dễ nhầm lẫn với hai câu Thực, đôi khi không chú ý thì Thực lại ra Luận, và Luận lại ra Thực thì bài thơ sẽ không đạt về phương diện Kỷ Thuật . Tuy nhiên Thực và Luận vẫn phải gắn bó chặt chẽ với nhau . Hai câu này cũng phải ĐỐI nhau như hai câu Thực . * Câu 7 và 8- Kết: Câu 7 còn gọi là câu Reo, và câu 8 làm nhiệm vụ kết thúc bài thơ . Hai câu này gắn liền với hai câu đầu (đề), mà người ta thường gọi là "hồi cố", tức là trở lại vấn đề trên, gợi ra hay để lại ấn tượng trong lòng người đọc . Bài thơ Đường luật hay và chuẩn hay không, thì khi viết xong một bài thơ người ta sẽ ghép các câu thơ trong bài thành những bài Tứ Tuyệt khác nhau . Thường là hai câu đầu với hai câu cuối xem mở đề và kết thúc có hài hòa chặt chẽ với nhau không . Hoặc tách 4 câu đầu và 4 câu cuối thành hai bài Tứ Tuyệt . Hay ghép đề với Thực, Thực với Luận, và Thực với Luận . Thì sự khiếm khuyết của bài thơ sẽ dễ dàng nhận ra hơn . *** Nhưng riêng các câu 3, 4, 5, 6 là Thực và Luận theo quan điểm của AT thì cho dù tách nó ra thành một bài Tứ Tuyệt cũng không hoàn chỉnh vì bản thân nó là chính giữa mà không có sự kết hợp với mở đầu hoặc kết thúc (đề và kết phải liên quan chặt chẽ) nên chẳng khác nào gây thêm khó khăn và nhầm lẫn mà thôi . 4. Họa: Họa tức là làm bài thơ đáp lại bài thơ của người khác (bài xướng) . - Họa nguyên vận: Tức là đáp lại bài thơ xướng theo đúng ý hoặc ngược lại ý của đề tài đã xướng nhưng bảo đảm đúng nguyên vần . Điều kiện trước tiên là phải theo đúng vần của bài xướng, không tự ý đưa vần khác vào gọi là họa nguyên vần . Điều thứ hai là chữ thứ 6 trong các câu 1, 2, 4 (tứ tuyêt.) và câu 1, 2, 4, 6, 8 (bát cú) không được trùng với bài xướng . Điều thứ ba là phải xem trước bài xướng để tìm vần cho bài họa của mình . Nếu gặp những vần khó ta có thể chuyển bài họa từ thể bằng sang thể trắc và ngược lại . - Họa bộ vận: Tức là mượn vần hay còn gọi là nương vần của bài xướng, họa đúng vần nhưng khác ý của bài xướng có nghĩa là không theo ý hay đề tài của bài xướng đưa ra . - Họa nghịch vận: Tức là bài họa theo vần từ dưới lên trên . Lấy vần của câu cuối trong bài xướng làm vần của câu đầu trong bài họa . - Họa tục vận: Nghĩa là bài thơ này đã được họa một lần rồi, nay tiếp tục họa thêm bài khác . - Họa loạn vận: Có nghĩa là cũng họa đủ các vần trong bài xươ"ng nhưng không theo thứ tự mà sắp xếp lung tung . *** Lưu ý: Khi làm một bài thơ Đường muốn người khác họa theo không nên dùng từ oái oăm, hay những vần độc nhất mà ngoài việc dùng lại vần của bài xướng không thể thay thế vần khác hay còn gọi là vần chết (tử vận). 5. Quan điểm riêng của người viết: Tuy khắt khe gò bó lẩn quẩn trong vòng khuôn phép "luật lệ", xong lại cũng có rất nhiều ngoại lệ . Tham khảo nhiều nguồn tại liệu xong rồi AT mới thấy rõ thơ Đường vẫn chưa phải là xuất sắc . Đây cũng là một khuyết điểm của thơ Đường . Đặt rất nhiều luật gò bó làm bài thơ khô khan dù có chuẩn luật cách mấy chăng nữa cũng không thể uyển chuyển, sinh động, phong phú, dễ nghe, dễ nhớ và đi sâu vào lòng người . Nếu sai phạm một luật nhỏ là hỏng cả bài thơ thì không phải quá khắt khe ư ? Càng nhiều luật thì càng làm cho các nhà thơ quanh quẩn mấy đề tài than mây khóc gió, than thân trách phận ... không cởi mở và khó hòa hợp với xã hội ngày một văn minh này . Trong một bài chỉ 8 câu mà đã có 4 câu phải đối nhau cả thanh lẫn ý, tìm cho ra những câu hay, câu tuyệt đã thật sự khó rồi . Mà lại còn thêm một điều đáng nói nữa là ... Không phải chỉ có mỗi người một tư tưởng riêng biệt, mà đôi khi những tư tưởng gặp nhau, cùng nói một câu, cùng dùng một chữ, cùng có một suy nghĩ ... Có khi họ chỉ là lần đâu tiên gặp gỡ . Thậm chí họ cũng chẳng bao giờ đọc hay nghe thơ của đối phương, nhưng họ vẫn viết ra cùng một câu . Và đến lúc này lại xuất hiện vấn đề . Ai viết trước thì câu thơ là quyền sở hữu của người đó . Còn ai cầm bút viết sau là ăn cắp ??? Một ví dụ điển hình dễ hiểu: thế hệ trước chọn tên hay, tên tốt đặt rồi, thế hệ sau không được phép đặt trùng vậy không phải càng ngày càng tệ hại đi sao ? Xấu hơn sao ? Hàng vạn người làm thơ, nhân lên thành con số trăm vạn ngàn lần bài thơ của hàng vạn tác giả đó; vậy thì có ai dám khẳng định hay chứng minh rằng tất cả những nhà thơ kỳ cựu nổi tiếng khi xưa họ chưa bao giờ làm thơ giống nhau ? Nếu trên đời không có người giống người, ý giống ý, thì các nhà sản xuất không cho ra đời cùng một sản phẩm với số lượng lớn . Ý AT muốn nói là sự trùng hợp bất đắc dĩ, khi dòng suy tưởng, hay nguồn cảm hứng đến với nhà thơ họ đặt bút mà viết ra . Phải nhìn vào, phải hiểu rõ tận cùng bài thơ coi nó có ăn khớp và hài hòa về nội dung không . Vì những người hay đi ăn cắp thơ với kiểu "râu ông này cắm cằm bà kia" thì chúng ta sẽ biết liền . Lúc đó bài thơ thường khó hiểu, lạc đề, nội dũng lãng xẹt, lạc vận nghiêm trọng ... Sở dĩ AT nói đây là cho mọi người cùng suy nghĩ lại mà cảm thông cho nhau trong lý tưởng và sự nghiệp thi ca của mình . Còn chuyện ăn cắp thật sự hay không, là ăn cắp hoàn toàn một bài thơ không do mình sáng tác mà mạo danh tác giả thì đó mới là điều đáng nói và xấu hổ . Cái đó giống như đem truyện Kiều của cụ Nguyễn Du mà nói là tập thơ này của tôi sáng tác thì thật là hết phương cứu chữa . Nói đến truyện Kiều bỗng nhiên tôi có vài điều muốn chia xẻ . Cụ Nguyễn Du dùng lời lẽ rất là bình dân, giản dị và thường gặp trong dân gian để sáng tác truyện Kiều . Chúng ta tôn trọng tác phẩm và tác giả, hết lòng tri ân những đại danh hào như ông đã đóng góp to tác vào nền thi ca của dân tộc Việt Nam . Nhưng điều đó không có nghĩa là có những câu thơ trong tập thơ của ông chưa bao giờ được nghe, viết, nói hay phổ biến trong dân gian trước thời điểm đó; hoặc sau thời điểm đó; nhất là nó ở dạng Lục Bát . AT chỉ ví dụ trong những câu thơ mở đầu truyện Kiều: "Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng Lạ gì bỉ sắc tư phong Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen" đem so sánh với một câu chuyện ở ngoài đời ... Khi con người đã trải qua những đau khổ thăng trầm họ buông miệng nói một câu: "Trải qua một cuộc bể dâu" ... rồi chúng ta chưa cần biết họ sắp nói gì tiếp đó . Nhưng không lẽ lúc đó lại có người phải đính chính hay sửa lưng họ là đã ăn cắp thơ của Nguyễn Du mà không để trong ngoặc kép ??? Thường thì chúng ta ai cũng nhìn thấy cái sai của người khác mà ít khi nào nhìn lại bản thân mình . Có lẽ quan điểm và tư tưởng của AT hơi khác lạ, nhưng AT chỉ tâm sự tự đáy lòng mà không hề có ý đả kích hay châm biếm ai cả . Kho tàng thơ ca Việt Nam là sự đóng góp dù nhiều hay ít của những người muốn cống hiến cho người, cho đời . Đã là nhà thơ hay yêu thích sáng tác thơ thì tất phải có tấm lòng vị tha, rộng rãi và cởi mở . Hiểu và thông cảm cho người khác cũng là cách tự bảo vệ mình trong trường hợp ngược lại . Chúng ta có thể đoán được phần nào tính tình qua cách sáng tác của nhà thơ . Những người Việt Nam mà chỉ chuyên hay thích sáng tác các thể loại thơ Đường thường là những người cũng rất khó khăn, khắt khe, và hết mực khuôn phép . Vì chất thơ là kết quả của hồn thơ, mà hồn thơ xuất phát từ tâm hồn của một nhà thơ nên nó biểu hiện tính cách, phong cách của tác giả . Cho nên đó là sự khác biệt to lớn giữa thơ Đường và thơ Việt . Đọc thơ đoán tâm trạng tác giả buồn vui, hờn giận, yêu ghét ... Nét độc đáo riêng của mỗi thi sĩ là mang sự cảm nhận, rung động một cách thực sự từ tâm hồn lồng vào trong tác phẩm của họ; họ thật sự nhập vai như một diễn viên đang thả hồn vào tâm trạng nhân vật hay một ca sĩ đang thả hồn vào một nhạc phẩm. Cho nên phong cách sáng tác ít có người giống nhau, nhưng ý thơ thì đôi lúc cùng tâm trạng mà thành ra tương tự . Nếu đem những bài thơ Đường luật thời xưa cho những thế hệ trẻ sau này xem, thì tất nhiên là không phù hợp lắm, xin lỗi AT nói thẳng . Chúng ta có thể giữ luật nhưng phải có phong cách sáng tạo mới mẻ, không nên dùng nhiều chữ Hán, mà dùng từ ngữ Việt Nam giản dị hơn, trong sáng hơn, bình dân hơn để cho mọi tầng lớp trong xã hội đều có thể cảm nhận được . Vì khi mình sáng tác là cũng mong muốn được tất cả mọi người yêu thích và thưởng thức . Câu nệ trong việc chọn từ mà làm bài thơ không còn âm điệu nữa, khó hiểu và có vẻ giả tạo mà không đủ sức hấp dẫn người đọc thì cũng không còn là một tuyệt tác . Nếu ai đã từng đọc qua nhiều thơ của các nhà thơ nổi tiếng hãy thử nhìn lại xem họ làm được bao nhiêu bài thơ hay . Hay trong số đó vẫn có những bài cũng rất tầm thường mà khi mình quá yêu thích, trong nhất thời không nhận ra hoặc quá ngưỡng mộ mà lại không dám nhìn thẳng sự thật sợ thần tượng bị sụp đổ ... v...v.. Điều đó cũng giống như một ca sĩ nổi tiếng chỉ nhờ một bài hát . Nhưng chưa chắc hát những bài hát khác đã đạt được tiêu chuẩn hay chiếm được cảm tình khán giả . Giống như một nghệ sĩ nổi danh qua một vai diễn để đời, nhưng đã chắc gì bao nhiêu vai diễn đều thủ xuất sắc như lần ấy ? ... Có người cho rằng thơ Đường dễ nhớ, dễ thuộc . Nhưng AT lại thấy thơ Việt Nam dễ đi sâu vào lòng người (Việt Nam) hơn . Qua vần điệu nhịp nhàng và liền lạc nhau, câu này là nhịp cầu nối với câu kia . Quan trọng là dễ nhớ, dễ hiểu mà cởi mở, phong phú . Thơ Đường đòi hỏi tuân theo nhiều luật định chặt chẽ như niêm, luật, đối ... và đòi hỏi nhiều công phu nhưng lại không du dương trầm bổng, không nhịp nhàng uyển chuyển dẫu phần kiến thức có đòi hỏi cao hơn thơ Việt Nam . Có người cho rằng tại những người ít học, ít am tường, cho thể loại thơ Đường khó hiểu nên thích làm thơ tự do để có sai thì không ai biết, chẳng ai cười, sự thật không hẳn như vậy . AT không đồng ý điều đó vì ai cũng có lúc bắt đầu . Nên lưu ý một điều thơ không phải là một bài toán học . Thơ, văn, nhạc, hội họa, ....nói chúng là những cái gì thuộc về nghệ thuật thường đòi hỏi một tâm hồn phóng khoáng, không gò bó mà nhất là đối với người Việt Nam chúng ta . Cái thời phong kiến chẳng qua cũng là do ảnh hưởng nền văn hóa Trung Hoa . Nó không còn ưu thế, chẳng còn thích hợp mà cũng chẳng đem lại kết quả mỹ mãn trong xã hội thời nay . "Ăn theo thuở , ở theo thời" là phương cách tốt nhất cho chúng ta sống . Miễn là giữ những cái gì nên giữ; và cần cải thiện, thay đổi những cái gì nên thay đổi cho hài hòa trong cuộc sống . AT vẫn tự hào về nguồn gốc Việt Nam của mình . AT vẫn mang trong người dòng máu Việt Nam; AT yêu thích sáng tác thơ theo lối Việt Nam; AT thích cống hiến cho đời, cho người bằng ngôn ngữ Việt Nam; AT thích các bạn trẻ cũng trau giồi, sáng tác những bài thơ Lục Bát, Song Thất Lục bát như AT; chứ không phải AT không hiểu cái quái gì về thơ Đường rồi không thích thơ Đường, hay không thích sáng tác thơ Đường . Thử hỏi điều AT làm có gì sai ?? Tâm hồn AT phóng khoáng, cởi mở, AT không thích gò bó . Nghiên cứu, tham khảo để tìm tòi, học hỏi, hiểu biết là điều nên làm nhưng không có nghĩa là phải theo những người đi trước mà sáng tác những gì mình không thích, hay là phải đi ngược lại tâm hồn thi sĩ của mình ... Cho nên thể thơ 5 chữ hay 7 chữ tự do mà thế hệ sau này, hay những người không thích gò bó về niêm luật đã sáng tác là phù hợp với người Việt Nam hơn . Cũng như thực tế ở đời "ngoài pháp lý vẫn có tình người", thì một tác phẩm nghệ thuật cũng cần phải có những điểm châm chước và sáng tạo . "Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn" . Muốn trở thành thi sĩ phải có khả năng thiên phú, chứ không phải học ba cái luật làu làu như con vẹt là làm được một bài thơ hay . Luật có thể học, nhưng tài năng của con người không thể học, mà nó được tích lũy sẵn trong bộ não của mỗi con người chúng ta . AT có thể làm một bài thơ hoàn toàn đúng luật nhưng chẳng có hay ho gì . Hay AT có thể vẽ một bông hoa nhưng chẳng có nét quyến rũ gì thì cũng không mang lại kết quả khả quan nào . Vì ham học và yêu thích thơ, AT cũng phải đọc, tham khảo nhiều tài liệu . Nhưng càng tham khảo, càng phân tích thì lại thấy càng ... vô lý . Mỗi nguồn tài liệu đều khác nhau, tuy cái căn bản có giống nhau, nhưng ai cũng thêm vào hoặc bớt đi để ra dáng vẻ khác . Suy cho cùng AT phải lòng vòng quanh quẩn để cố gắng tìm cho mình một lập trường riêng . AT không biết ai đúng, ai sai ? Nên quan trọng nhất là đúc kết lại vấn đề rồi học hỏi những cái hay của họ mà tạo cho mình một hướng đi . Và dẫu sao AT cũng thành thật tri ân họ, đã đem lại cho AT cái căn bản để tôi tìm tòi nguồn kiến thức mới, sáng tạo mới . Đọc để hiểu, để có một chút kiến thức nho nhỏ làm hành trang trên bước đường sáng tác của riêng mình . Và dĩ nhiên cùng là con người thì thật sự không có ai hoàn hảo cả nên sẽ có rất nhiều điều sai sót . Bài viết của AT có ý gởi đến thế hệ trẻ, những người có tinh thần yêu thơ ca mà không hiểu rõ những kiến thức căn bản để có thể tự sáng tác những bài thơ cho riêng mình, cho người và cho đời . Quan điểm riêng của AT cũng nhầm mục đích nói lên tư tưởng mới, hoặc có khi đã cũ nhưng chẳng qua không ai chịu nói ra mà thôi . Vì AT thấy có rất nhiều bạn trẻ thích làm thơ mà không thể viết được một bài thơ đúng vần, đúng điệu, cũng chẳng là thơ tự do hay là một bài văn xuôi mạch lạc nữa . Cho dù tự do vẫn có nhịp nhàng du dương và cách sắp xếp bằng trắc sao cho suôn sẻ . Cho nên AT muốn gởi hết tâm tư và chút hiểu biết của mình qua bài viết này mong đóng góp một phần nào như món quà nho nhỏ gởi đến các bạn trẻ . Thân chúc các bạn luôn thành công trong thơ ca và cuộc sống ! AT Xuân an lạc trăm hoa cười đua nở Như Tình Yêu là hơi thở trong lành Và Hạnh Phúc không chỉ tình trai gái Còn bao Tình Thân Ái ở chung quanh ![]() ... Yêu là chia một quả tim Là trao một nửa, là thêm một lần ...! |
| ||||
| THƠ NGŨ NGÔN (THƠ NĂM CHỮ) *** Luật: có hai thể, thể luật bằng và thể là luật trắc . Hễ chữ thứ hai trong câu thơ đầu là tiếng bằng, thì gọi là luật bằng , chữ thứ hai là tiếng trắc, thì gọi là luật trắc Hai luật ấy được định như sau: * Ngũ ngôn bát cú (8 câu) luật bằng B--B--T--T--B(v) T--T--T--B--B(v) T--T--B--B--T -------->đối câu 4 B--B--T--T--B(v) ---->đối câu 3 B--B--B--T--T -------->đối câu 6 T--T--T--B--B(v) ----->đối câu 5 T--T--B--B--T B--B--T--T--B(v) * Ngũ ngôn bát cú (8 câu) luật trắc T--T--T--B--B(v) B--B--T--T--B(v) B--B--B--T--T -------->đối câu 4 T--T--T--B--B(v) ----->đối câu 3 T--T--B--B--T -------->đối câu 6 B--B--T--T--B(v) ----->đối câu 5 B--B--B--T--T T--T--T--B--B(v) ** T = Trắc , B = Bằng, v = Vần Nếu theo đúng luật như trên thì khó quá, nên người ta lập ra lệ bất luận . Bất luận có nghĩa là không kể luật; những chữ thứ NHẤT và chữ thứ BA trong câu thơ có thể dùng tiếng bằng thay tiếng trắc và ngược lại . Vậy thì Ngũ ngôn luật bằng với Nhất - Tam bất luận như sau: b--B--t--T--B(v) t--T--t--B--B(v) t--T--b--B--T -------->đối câu 4 b--B--t--T--B(v) ---->đối câu 3 b--B--b--T--T ------->đối câu 6 t--T--t--B--B(v) ----->đối câu 5 t--T--b--B--T b--B--t--T--B(v) ** b = Bằng (bất luận) , t = Trắc (bất luận) Vậy dựa trên Nhất - Tam bất luận, có thể đưa ra nguyên tắc căn bản dễ nhớ cho chữ thứ 2, 4, và 5 như sau: 2--4--5 B--T--B (v) T--B--B (v) T--B--T---------> đối câu 4 B--T--B (v) ----->đối câu 3 B--T--T---------->đối câu 6 T--B--B (v) ----->đối câu 5 T--B--T B--T--B (v) Và tương tự như vậy cho luật trắc thì bài ngũ ngôn luật trắc với Nhất - Tam bất luận như sau: t--T--t--B--B(v) b--B--t--T--B(v) b--B--b--T--T-------->đối câu 4 t--T--t--B--B(v) ----->đối câu 3 t--T--b--B--T--------->đối câu 6 b--B--t--T--B(v) ----->đối câu 5 b--B--b--T--T t--T--t--B--B(v) ** b = Bằng (bất luận) , t = Trắc (bất luận) Vậy dựa trên Nhất - Tam bất luận, có thể đưa ra nguyên tắc căn bản dễ nhớ cho chữ thứ 2, 4, và 5 như sau: 2--4--5 T--B--B (v) B--T--B (v) B--T--T ------->đối câu 4 T--B--B (v) --->đối câu 3 T--B--T ------->đối câu 6 B--T--B (v) --->đối câu 5 B--T--T T--B--B (v) *** Niêm: là phép định tiếng Bằng niêm với tiếng Bằng, tiếng Trắc niêm với tiếng Trắc thành nguyên tắc: Nhất - Bát, Nhị - Tam, Tứ - Ngũ, Lục - Thất Nghĩa là tiếng thứ hai và bốn của câu 1 niêm với tiếng thứ hai và bốn của câu 8, tiếng thứ hai và bốn của câu 2 niêm với tiếng thứ hai và bốn của câu 3, tiếng thứ hai và bốn của câu 4 niêm với tiếng thứ hai và bốn của câu 5, tiếng thứ hai và bốn của câu 6 niêm với tiếng thứ hai và bốn của câu 7 . *** Đối: là nguyên tắc bắt buộc và phải bảo đảm cho đúng bằng trắc . Nghĩa là Bằng đối với Trắc, Trắc đối với Bằng . Thí dụ: cay với đắng, yêu với ghét, chôn thảm với lấp sầu, trong với đục ...v...v... --- Động từ đối với động từ: đi với đứng, ăn với uống, khóc với cười ... --- Danh từ đối với danh từ: cha với mẹ, vợ với chồng, gia đình với xã hội, lúa với khoai ... --- Tính từ đối với tính từ: rách với lành, xinh đẹp với xấu xa, ngọt bùi với cay đắng, say sưa với tỉnh táo ... --- Hư từ đối với hư từ: thế với nhưng, đã với chưa, vừa, mới, cùng, với .... --- Số từ đối với số từ: một với hai, ba với năm, tam (tòng) với tứ (đức), hai mốt với sáu lăm ... --- Danh từ riêng đối với danh từ riêng: Sài Gòn với Hà Nội, Việt Nam với Trung Quốc, Kim Đồng với Ngọc Nữ ... --- Tự đối với tự, nôm đối với nôm: nghĩa nhân với ân huệ, giang sơn với xã tắc, thất bại với thành công, Nam Sơn với Đông Hải ... Ngũ ngôn luật bằng: 2--4--5 B--T--B (v) T--B--B (v) T--B--T -------->đối câu 4 B--T--B (v) ---->đối câu 3 B--T--T--------->đối câu 6 T--B--B (v) ---->đối câu 5 T--B--T B--T--B (v) Thơ ví dụ: Bây GIỜ em BIẾT BUỒN Giọt LỆ sầu EM TUÔN Khắc KHOẢI lòng THƯƠNG NHỚ Băn KHOĂN dạ MỎI MÒN Tình YÊU đành CHẾT LỊM Kỷ NIỆM cũng VÙI CHÔN Đời BỖNG dưng VÔ NGHĨA Đâu RỒI những NỤ HÔN ! Hay là: Đường TÌNH ta RẼ NGÔI Cũng CHỈ tại ANH THÔI Lỗi HẸN xưa CHUNG BƯỚC Quên THỀ cũ SÁNH ĐÔI Bởi TIN lời CHÓT LƯỠI Vì CẢM giọng ĐẦU MÔI Nỡ CHẠY theo DUYÊN MỚI Mặc TÌNH năm THÁNG TRÔI ! Ngũ ngôn luật trắc: 2--4--5 T--B--B (v) B--T--B (v) B--T--T -------->đối câu 4 T--B--B (v) ---->đối câu 3 T--B--T -------->đối câu 6 B--T--B (v) ---->đối câu 5 B--T--T T--B--B (v) Thơ ví dụ: Bờ CÁT vàng ÊM ÊM Nỗi ĐAU dâng NGỌT MỀM Chân VÙI in MẶT CÁT Gió THỔI lạnh BUỒNG TIM Mặt NƯỚC dâng TRÙNG SÓNG Lòng KHƠI dậy NỖI NIỀM Đợi THUYỀN xưa CẶP BẾN Ôm BIỂN sầu TRONG ĐÊM ! Hay là: Xuân ĐÃ về MUÔN NƠI Nàng XUÂN đẹp TUYỆT VỜI Pháo GIÒN thơm VỊ ĐẤT Hoa RỘ ngát HƯƠNG TRỜI Chim HÓT vang VƯỜN MỘNG Trẻ CƯỜI rộn PHỐ VUI Ta MỪNG xuân HẠNH PHÚC Nở NỤ hồng TRÊN MÔI ! * Ngũ ngôn tứ tuyệt (4 câu): Là những bài thơ 5 chữ 4 câu . Như đã nói ở trên, từ một bài bát cú là điển hình của những bài thơ tứ tuyệt mà niêm luật vần căn bản như nhau . Thơ ví dụ: Đường TÌNH ta RẼ NGÔI Cũng CHỈ tại ANH THÔI Lỗi HẸN xưa CHUNG BƯỚC Quên THỀ cũ SÁNH ĐÔI Bởi TIN lời CHÓT LƯỠI Vì CẢM giọng ĐẦU MÔI Nỡ CHẠY theo DUYÊN MỚI Mặc TÌNH năm THÁNG TRÔI ! Bài thơ bát cú tách rời thành hai bài tứ tuyệt . Bài một là bài tứ tuyệt có đối câu 3 và 4 . Bài hai có đối câu 1 và 2 và bài này còn gọi là tứ tuyệt trốn vần (câu một cước vận là vần trắc) . Nhiều khi người ta không làm câu đối trong bài tứ tuyệt . *** Đó là những quy tắc căn bản cho bài thơ Ngũ Ngôn . Chúc các bạn thành công ![]() AT Xuân an lạc trăm hoa cười đua nở Như Tình Yêu là hơi thở trong lành Và Hạnh Phúc không chỉ tình trai gái Còn bao Tình Thân Ái ở chung quanh ![]() ... Yêu là chia một quả tim Là trao một nửa, là thêm một lần ...! |
| ||||
| THƠ THẤT NGÔN (THƠ BẢY CHỮ) *** Luật: có hai thứ, một thứ là luật bằng và một thứ là luật trắc , hễ chữ thứ hai trong câu thơ đầu là tiếng bằng, thì gọi là luật bằng , chữ thứ hai là tiếng trắc, thì gọi là luật trắc *** Thất Ngôn Bát Cú: Có nghĩa là bài thơ có 7 chữ 8 câu, trong đó câu 3 và câu 4 đối nhau, câu 5 và câu 6 đối nhau . Hai luật ấy được định như sau: Thất Ngôn bát cú luật Bằng: B---B---T---T---T---B---B (v) T---T---B---B---T---T---B (v) T---T---B---B---B---T---T--------> đối câu 4 B---B---T---T---T---B---B (v) ---> đối câu 3 B---B---T---T---B---B---T--------> đối câu 6 T---T---B---B---T---T---B (v) ---> đối câu 5 T---T---B---B---B---T---T B---B---T---T---T---B---B (v) Thất Ngôn bát cú luật Trắc: T---T---B---B---T---T---B (v) B---B---T---T---T---B---B (v) B---B---T---T---B---B---T--------> đối câu 4 T---T---B---B---T---T---B (v) ---> đối câu 3 T---T---B---B---B---T---T--------> đối câu 6 B---B---T---T---T---B---B (v) ---> đối câu 5 B---B---T---T---B---B---T T---T---B---B---T---T---B (v) ** T = Trắc , B = Bằng, v = Vần Nếu theo đúng luật như trên thì khó quá, nên người ta lập ra lệ bất luận . Bất luận có nghĩa là không kể luật; những chữ thứ NHẤT, chữ thứ BA, và chữ thứ NĂM trong câu thơ có thể dùng tiếng bằng thay tiếng trắc và ngược lại . Hãy ghi nhớ điều này sẽ dễ hơn: Nhất --Tam --Ngũ bất luận, Nhị --Tứ --Lục phân minh . Nghĩa là chữ thứ 1, 3, 5 không kể nhưng chữ thứ 2, 4, 6 phải vào luật . Vậy thì Thất ngôn luật bằng với Nhất - Tam - Ngũ bất luận như sau: b---B---t---T---t---B---B (v) t---T---b---B---t---T---B (v) t---T---b---B---b---T---T -------> đối câu 4 b---B---t---T---t---B---B (v) ---> đối câu 3 b---B---t---T---b---B---T -------> đối câu 6 t---T---b---B---t---T---B (v) ---> đối câu 5 t---T---b---B---b---T---T b---B---t---T---t---B---B (v) ** b = Bằng (bất luận) , t = Trắc (bất luận) Vậy dựa trên Nhất - Tam - Ngũ bất luận, có thể đưa ra nguyên tắc căn bản dễ nhớ cho chữ thứ 2, 4, và 6 như sau: 2---4---6 B---T---B---B (v) T---B---T---B (v) T---B---T---T--------> đối câu 4 B---T---B---B (v) ---> đối câu 3 B---T---B---T--------> đôi câu 6 T---B---T---B (v) ---> đối câu 5 T---B---T---T B---T---B---B (v) Và tương tự như vậy cho luật trắc thì bài ngũ ngôn luật trắc với Nhất - Tam - Ngũ bất luận như sau: t---T---b---B---t---T---B (v) b---B---t---T---t---B---B (v) b---B---t---T---b---B---T--------> đối câu 4 t---T---b---B---t---T---B (v) ----> đối câu 3 t---T---b---B---b---T---T--------> đối câu 6 b---B---t---T---t---B---B (v) ----> đối câu 5 b---B---t---T---b---B---T t---T---b---B---t---T---B (v) ** b = Bằng (bất luận) , t = Trắc (bất luận) Vậy dựa trên Nhất - Tam - Ngũ bất luận, có thể đưa ra nguyên tắc căn bản dễ nhớ cho chữ thứ 2, 4, và 6 như sau: 2---4---6 T---B---T---B (v) B---T---B---B (v) B---T---B---T--------> đối câu 4 T---B---T---B (v) ---> đối câu 3 T---B---T---T--------> đối câu 6 B---T---B---B (v) ---> đối câu 5 B---T---B---T T---B---T---B (v) *** Niêm: là phép định tiếng Bằng niêm với tiếng Bằng, tiếng Trắc niêm với tiếng Trắc thành nguyên tắc: Nhất - Bát, Nhị - Tam, Tứ - Ngũ, Lục - Thất Nghĩa là tiếng thứ hai và bốn của câu 1 niêm với tiếng thứ hai và bốn của câu 8, tiếng thứ hai và bốn của câu 2 niêm với tiếng thứ hai và bốn của câu 3, tiếng thứ hai và bốn của câu 4 niêm với tiếng thứ hai và bốn của câu 5, tiếng thứ hai và bốn của câu 6 niêm với tiếng thứ hai và bốn của câu 7 . *** Đối: là nguyên tắc bắt buộc và phải bảo đảm cho đúng bằng trắc . Nghĩa là Bằng đối với Trắc, Trắc đối với Bằng . Thí dụ: cay với đắng, yêu với ghét, chôn thảm với lấp sầu, trong với đục ...v...v... --- Động từ đối với động từ: đi với đứng, ăn với uống, khóc với cười ... --- Danh từ đối với danh từ: cha với mẹ, vợ với chồng, gia đình với xã hội, lúa với khoai ... --- Tính từ đối với tính từ: rách với lành, xinh đẹp với xấu xa, ngọt bùi với cay đắng, say sưa với tỉnh táo ... --- Hư từ đối với hư từ: thế với nhưng, đã với chưa, vừa, mới, cùng, với .... --- Số từ đối với số từ: một với hai, ba với năm, tam (tòng) với tứ (đức), hai mốt với sáu lăm ... --- Danh từ riêng đối với danh từ riêng: Sài Gòn với Hà Nội, Việt Nam với Trung Quốc, Kim Đồng với Ngọc Nữ ... --- Tự đối với tự, nôm đối với nôm: nghĩa nhân với ân huệ, giang sơn với xã tắc, thất bại với thành công, Nam Sơn với Đông Hải ... Thất Ngôn luật Bằng: 2---4---6 B---T---B---B (v) T---B---T---B (v) T---B---T---T--------> đối câu 4 B---T---B---B (v) ---> đối câu 3 B---T---B---T--------> đôi câu 6 T---B---T---B (v) ---> đối câu 5 T---B---T---T B---T---B---B (v) Thơ ví dụ: THÓI ĐỜI Thói ĐỜI cay NGHIỆT lắm AI ƠI ! Lắm LÚC rưng RƯNG lệ NGHẸN LỜI Bạc ĐỐNG tiền ĐẦY luôn MUỐN VIẾNG Thân TÀN khố RÁCH chẳng THÈM CHƠI Thăng QUAN tiến CHỨC còn TÌNH BẠN Thất THẾ sa CƠ hết NGHĨA NGƯỜI Trở MẶT quay LƯNG vèo TỰA GIÓ Ngọt BÙI chung HƯỞNG đắng RIÊNG TÔI ! Thất Ngôn luật Trắc: 2---4---6 T---B---T---B (v) B---T---B---B (v) B---T---B---T----> đối câu 4 T---B---T---B (v) T---B---T---T----> đối câu 6 B---T---B---B (v) B---T---B---T T---B---T---B (v) Thơ ví dụ: NGỦ Miệng CHÉP bâng QUƠ mắt NHẮM NGHIỀN Tay KHỀU chân ĐẠP ngáy NHƯ ĐIÊN Hồn VƯƠNG lối CỎ lui LÒNG ĐẤT Trí QUYỆN đường MÂY tới ĐỈNH THIÊN Chốc CHỐC xoay NGƯỜI thân UỐN ÉO Lâu LÂU đổi THẾ miệng CƯỜI DUYÊN Cũng CON người ĐÓ mơ VÀ THẬT Giấc NGỦ nhìn XEM biết DỮ HIỀN ! *** Thất Ngôn Tứ Tuyệt: Là bài thơ có 7 chữ 4 câu, bài thơ thất ngôn bát cú là một điển hình của những bài thơ tứ tuyệt và nguyên tắc căn bản đều như nhau . Thơ ví dụ: Thói ĐỜI cay NGHIỆT lắm AI ƠI ! Lắm LÚC rưng RƯNG lệ NGHẸN LỜI Bạc ĐỐNG tiền ĐẦY luôn MUỐN VIẾNG Thân TÀN khố RÁCH chẳng THÈM CHƠI Thăng QUAN tiến CHỨC còn TÌNH BẠN Thất THẾ sa CƠ hết NGHĨA NGƯỜI Trở MẶT quay LƯNG vèo TỰA GIÓ Ngọt BÙI chung HƯỞNG đắng RIÊNG TÔI ! Từ bài thơ bát cú Thói Đời ta có thể tách ra thành hai bài tứ tuyệt mà quy tắc căn bản đều đã định sẵn . Thất Ngôn Tứ Tuyệt trên hình thức cũng giống như Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt là sự tách rời của một bài thơ Bát Cú . Hoặc chúng ta có thể làm một bài 4 câu . **** Đó là những quy tắc căn bản cho một bài thơ Thất Ngôn . Chúc các bạn thành công . AT Xuân an lạc trăm hoa cười đua nở Như Tình Yêu là hơi thở trong lành Và Hạnh Phúc không chỉ tình trai gái Còn bao Tình Thân Ái ở chung quanh ![]() ... Yêu là chia một quả tim Là trao một nửa, là thêm một lần ...! |
| ||||
| THƠ TỰ DO (4 CHỮ, 5 CHỮ, 6 CHỮ, 7 CHỮ, 8 CHỮ ...) Các thể loại thơ trên không có luật nhất định . Khi làm một bài thơ người ta có thể gieo vần điệu uyển chuyển, suôn sẻ, nhịp nhàng và đi vào lòng người hay không là khả năng và cách diễn đạt của từng người . Có thể dùng vần bằng hay vần trắc, gieo vần ở cuối hay giữa câu, có thể dùng vần chéo, vần tiếp, ... mà không bị ràng buộc bởi niêm luật . Ngắt nhịp tùy ý nhưng cũng làm sao cho hài hòa không chướng tai . AT cố gắng rút ra vài kết luận nho nhỏ và ví dụ tượng trưng cho mỗi thể loại để chúng ta hướng theo . Ngoài ra chúng ta có thể làm tự do . *** THƠ 4 CHỮ: 1. Cánh bướm muôn màu Đẹp xinh nhảy múa Hoa nở nụ chào Tình xuân chan chứa ! 2. Nỗi buồn trong mắt Đau xé tim anh Nụ cười chợt tắt Tàn ước mơ xanh 3. Anh là cơn gió Hôn nhẹ làn mi Thoáng vờn trên tóc Cợt đùa rồi đi 4. Hoa cười trong nắng Bướm lượn trên không Thơ thẩn đàn ông Giữa vườn hoa trắng 5. Sương rơi trắng xóa Ướt đẫm vai gầy Trong trái tim này Từng cơn lạnh tỏa 6. Mơ thấy em cười Mắt nai sáng ngời Em là tiên nữ Trong anh tuyệt vời Những bài thơ trên là ví dụ của thơ 4 chữ, chúng ta có thể rút ra kết luận nhỏ là: - chữ thứ 2 và chứ thứ 4 đối ngược nhau, có nghĩa là nếu chữ này bằng thì chữ kia là trắc và ngược lại . Nếu cách vận thì câu 1có thanh bằng và trắc đi với câu 3, câu 2 đi với câu 4 . Nếu liên vận thì câu 1 đi với 4, câu hai đi với 3 . Ngoài ra chúng ta làm tự do sắp xếp sao cho vần điệu hài hòa là được . Nên nhớ trong câu thơ 4 chữ thì nhất phải có một chữ là B/T trong câu thì nghe mới lọt tai . Nếu được 2B và 2T thì sẽ hay hơn . *** THƠ 5 CHỮ: 1. Cây đã thay màu lá Thu vàng trên lối đi Gió hồn nhiên trở dậy Ôm lá sầu lâm ly 2. Trăng cười trên đỉnh núi Ta ước gì đêm nay Ta hóa thành cơn gió Hôn Hằng thật đắm say Ước gì ta có phép Tung cánh lướt ngàn mây Hái trăng về địa giới Ôm trọn trong vòng tay ! 3. Tình buồn như áng mây Như gió xô tim gầy Bởi ánh trăng tròn khuyết Và lòng anh đổi thay ! Thề hứa chi anh ơi Ước tương lai tuyệt vời Mơ ngày mai pháo nổ Ly rượu hồng giao bôi ! 4. Đã là trong quá khứ Ngỡ im lìm phôi phai Ta vùi trong cơn say Lãng quên hình bóng cũ Sao tình như thác lũ Ào ạt dậy trong lòng Tim rạn vỡ khôn cùng Say tình trong men rượu ... 5. Đêm nay trắng sáng quá Mình tâm sự miệt mài Anh hôn lên suối tóc Và khẽ nắm bàn tay ... 6. Anh nỡ phụ tình tôi Giữa dòng đời ngây dại Khi yêu là thất bại Tan nát quả tim côi ! 7. Duyên hợp rồi lại tan Tiệc vui nào không tàn Từng đêm buồn trăn trở Ôm nỗi sầu miên man Tương tự như thơ 4 chữ, thơ 5 chữ cũng lấy chữ thứ 2 và 4 trong câu làm chuẩn (xem phần thơ 4 chữ) . Đoạn 1 và đoạn 2 là hai đoạn cách vận . Đoạn 3 là thơ ba vần . Đoạn 4 là thơ liên vận (B/T) tự do . 3 đoạn cuối là thơ tự do . Nhìn chung nếu thơ 5 chữ mà dựa theo luật của thơ Ngũ Ngôn Đường Luật nhưng không có đối thì cũng là cáh dễ nhớ và căn bản cho thơ 5 chữ tự do bằng trắc phối hợp . *** THƠ 6 CHỮ: Ta dựa theo luật căn bản của thơ 7 chữ mà rút ra kết luận cho 6 chữ tự do như sau: Vần Trắc: 2------4-------6 T------B-------T B------T-------B B------T-------B T------B-------T Ví dụ: Ta cố tìm ra nguyên lý Sao tình không cánh mà bay Ta không hề thấy mình sai Thì lỗi này do ai nhỉ ? Vần Bằng: 2------4-------6 B------T-------B T------B-------T T------B-------T B------T-------B Ví dụ: Nếu anh còn nhớ về em Anh hỡi vì sao lỗi hẹn Chờ mãi mà anh chẳng đến Để lòng em khổ sầu thêm ... Hai đoạn thơ dưới đây là 6 chữ tự do: 1. Ngoài hiên âm thầm giọt nắng Chiều rơi vương nhẹ bên thềm Ngồi nâng ly sầu chén đắng Nghe buồn dâng ngập trong tim 2. Em như chim sáo tung tăng Qua lối mòn quê yêu mến Em cười đẹp như ánh trăng Đôi mắt lung linh màu nến *** THƠ 7 CHỮ: Thơ 7 chữ có luật căn bản như thơ Đường nhưng không có đối . Không gò bó khắt khe có nhiều châm chước nên trở thành tự do phóng khoáng và ý thơ dào dạt hơn . Vần Trắc: 2------4-------6------7 T------B-------T------B (v) B------T-------B------B (v) B------T-------B------T T------B-------T------B (v) Thơ ví dụ: Có lẽ đời ta nợ rất nhiều Nợ từ tiền kiếp, kiếp rong rêu Vừa lời lẫn vốn vay rồi trả Nợ cứ luân hồi một chữ yêu ! Vần Bằng: 2------4-------6------7 B------T-------B------B (v) T------B-------T------B (v) T------B-------T------T B------T-------B------B (v) Thơ ví dụ: Em ngồi trông đợi dưới mưa sa Đã tự bao giờ anh chẳng qua Nghe nhói tim đau, lòng khắc khoải Sao đành lỗi hẹn với người ta *** Vài ví dụ về thơ 7 chữ tự do: 1. ... Em có nghe chăng tiếng sụt sùi Trong niềm hối hận, ướt vành môi Luân thường đạo đức và giá trị Em biết gì không hỡi em tôi ?? ... 2. ... Lời mật ngọt ta vào mê hồn trận Lối thiên đàng sao bóng bẩy trơn tru Rồi từng bước rơi vào vòng oan nghiệt Lối quay về sao mờ mịt âm u ... 3. ... Khi sóng tình dâng như thác lũ Lúc nằm bất động chẳng buồn lay Đời trăm lối rẽ và ta biết Lúc cũng chung tình, khi đổi thay ! ... Đoạn thơ đầu là thơ 3 vần, hai đoạn sau là thơ cách vần . *** THƠ 8 CHỮ: Thơ 8 chữ cũng không có luật nhất định, nhưng cần sắp xếp bằng trắc cân xứng hài hòa, những chữ căn bản thường rơi vào chữ thứ 3, 5, và 7 hoặc là chữ thứ 3 và chữ thứ 6 . Khi ngắt nhịp hay gieo vần theo hướng nào thì dẫn những câu thơ ăn khko*'p với nhau để tạo nên sự hài hòa nhất định . Trên căn bản nó cũng giống các thể loại khác . Trong câu thơ 8 chữ có ít nhất là 3 Bằng - 5 Trắc hoặc ngược lại . Nếu được 4/4 thì sẽ hay hơn . Còn như 8 chữ mà hết 6 hoặc 7 chữ cùng thanh thì bài thơ sẽ không hài hòa nữa, không đi vào lòng người đọc . Thể thơ 8 chữ này rất phong phú, đa dạng, muôn màu muôn vẻ có đi sâu vào lòng người hay không là do tiềm năng của mỗi người . Thơ ví dụ: Trong rộn rã nụ cười chưa trọn vẹn Bao niềm vui đầy hứa hẹn chợt tan Không kịp lời cầu cứu với than van Thì xác cuốn trôi giữa ngàn sóng dữ ... Đoạn thơ trên bằng trắc rơi vào chữ thứ 3 và 6 . Câu 1 đi với câu 4, câu 3 đi với câu 2 . Chữ thứ 6 của câu 2 đệm lại vần của chữ thứ 8 trong câu 1. Chữ thứ 6 của câu 4 đệm lại vần của chữ thứ 8 trong câu 3 . Sóng ập đến trong kinh hoàng vũ trụ Cho trần gian nhân loại nát tan lòng Ôi máu tươi hòa nước biển tuôn dòng Ôi thảm cảnh quay cuồng trong tâm thức Sóng ập đến trong kinh hoàng bất lực Chẳng còn hơi còn sức để kêu gào Phút sau cùng ngơ ngác giữa niềm đau Còn tức tưởi còn nghẹn ngào vô tận ! ... Hai đoạn thơ trên ngắt nhịp 3, 2, 3 mà hai vế 3-3 của câu một đi với câu 4, câu 2 đi với câu 3. ... Kể từ lúc tượng hình trong lòng Mẹ Mẹ cưu mang hơn chín tháng nhọc nhằn Rồi mở mắt chào đời trong tiếng khóc Mẹ vui mừng con trẻ có biết chăng ? Cảm ơn Mẹ | ban cho con | sự sống Cả một đời | gian khổ với | hy sinh Từ chập chững | bước đi rồi | bập bẹ Đôi môi non | gọi : "Mẹ" chứa | thâm tình! ... Nếu một mai | không còn băng tuyết nữa Ta sẽ tìm ra điểm tựa | yêu thương Ta sẽ nhặt | tim từ trăm mảnh vỡ Nối lại tình muôn thưở | vá lành gương Xuân mười tám |em tóc ngời | mắt biếc Cho lòng anh | tha thiết mộng | giai nhân Lời tương tư | anh muốn ngỏ | bao lần Sao lặng lẽ | âm thầm khi | đối mặt ... Những đoạn thơ trên là vần chéo hay cách vần chia nhịp và sắp xếp bằng trắc rõ ràng . Lối phân tích cũng giống các đoạn thơ đầu . Một vài thể loại khác : Ví dụ: TÌNH QUAY GÓT Không nỡ đành xa Tình ta còn tha thiết ? Cho giấc mộng ngàn năm bất diệt Vỡ tan thành những mảnh tương tư Đời là thực hư Tình như làn mây khói Đôi ta còn bao lời muốn nói ... Ấp ủ trong lòng những vết thương ... Tình nồng thơm hương Thiên đường hoa với bướm Mối tình đầu trong tim vừa chớm Ngọt ngào nhưng lại quá mong manh ! Còn gì trong anh ? Khi tình yêu vỗ cánh Phương trời nào có nghe buốt lạnh Từng giọt sầu chảy ướt tâm cang ...! Khi tình dở dang Lỡ làng ... người quay gót ! Ôi những lời đầu môi mật ngọt Nhói đau lòng, tan nát tâm tư ! AT Bài thơ trên là một sáng tạo của AT, mời các bạn tự nhiên sáng tác nếu thích . Những đoạn 4 câu thơ 4, 5, 7, 7 . Chữ thứ 4 trong câu 1 vần với chữ thứ 2 trong câu 2 . Chữ thứ 5 trong câu 2 vần với chữ thứ 7 trong câu 3 . Chữ thứ 7 trong câu 4 vần với chữ thứ 4 trong câu 1 của đoạn kế tiếp . *** Lưu Ý: Thơ Tự Do phần lớn là do AT tự biên soạn, nên sẽ không giống những nguồn tài liệu tham khảo . Hy vọng là giúp các bạn có phương cách sáng tạo mới . Chúc các bạn thành công ! AT Xuân an lạc trăm hoa cười đua nở Như Tình Yêu là hơi thở trong lành Và Hạnh Phúc không chỉ tình trai gái Còn bao Tình Thân Ái ở chung quanh ![]() ... Yêu là chia một quả tim Là trao một nửa, là thêm một lần ...! |
| ||||
| LỜI CẢM TẠ AT xin chân thành cảm tạ và tri ân những nguồn tài liệu mà AT đã nghiên cứu và tham khảo từ: 1) Trang Thư Viện Việt Nam 2) Viện Việt Học 3) Trang Non Sông 4) Truyện Kiều (Nguyễn Du) 5) Cấu Trúc Thơ (Thụy Khuê) 6) Việt Thi (Trần Trọng Kim) 7) Nghệ Thuật Sáng Tác Thơ (Lạc Nam) 8) Sách Khảo Cứu - Sáng Tác Thơ Tập I (N' Everest) Mỗi tài liệu có một cái hay riêng và một nghệ thuật sáng tạo riêng . Và khi đọc thì có rất nhiều điều mà AT không thể diễn đạt hết nơi đây . AT muốn góp nhặt những điều căn bản nhất, dễ hiểu nhất và đơn giản nhất nhầm giúp các bạn dễ hiểu và thành công nhanh chóng . AT chỉ tham khảo luật và nghệ thuật làm thơ thôi . Ngoại trừ thơ trích dẫn trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, đa số các vần thơ con cóc là AT viết và dẫn chứng rất đơn giản nhầm cho ví dụ dễ hiểu để phù hợp với lối nhận thức của giới trẻ ngày nay . Vì nhiều khi trong thơ xưa, cách dùng từ rất khó hiểu, cho nên khi học thì phải học cách nào đơn giản và nhanh chóng nhất . Có rất nhiều trường hợp ngoại lệ, và phá luật . Nhưng chúng ta cần phải nắm vững căn bản trước . Không câu nệ, cố chấp và lệ thuộc vào luật quá, nhưng cũng KHÔNG có nghĩa là thích làm sao thì làm, vì có những luật không thể phá, nếu phá thì mất đi hoàn toàn giá trị bài thơ . Mong là bài viết này có thể giúp các bạn sáng tác một bài thơ của chính mình . *** Lưu Ý: Ngoại trừ tác giả bài viết, mọi sự trích dẫn (quote), đăng lại (repost) ở bất cứ nơi nào khác (anywhere else) phải giữ nguyên văn bài viết (original post), tác giả bài viết (author) và từ site (source) www.forvn.com or www.dainam.net Xin chân thành cảm ơn ! ©AiTinh 2006 AT Xuân an lạc trăm hoa cười đua nở Như Tình Yêu là hơi thở trong lành Và Hạnh Phúc không chỉ tình trai gái Còn bao Tình Thân Ái ở chung quanh ![]() ... Yêu là chia một quả tim Là trao một nửa, là thêm một lần ...! |
| ||||
| Người Ta Cứ Chọc Khi tôi cười người ta cứ chọc Chẳng biết người ta đọc được chi ? Hiểu tôi ... cười ... chọc chứ gì ! Tôi cười ... người gặng: chọc quê người à ?! Khi tôi lắng nghe là người bảo ... Tôi im lìm ... cố tạo ... chiêu hay Trái tim chân thật đây này ... Tôi đâu dối gạt ... chọc hoài ghét ghê ! Người ta bảo tôi nhè ... mít ướt (hihihi) Õng ẹo ... hoài ... chỉ được ... hiền khô Người ta ăn hiếp ... hay lo ? Thiên thần hộ mệnh ... để cho tôi cười ! Người nói một .... hiểu mười mới giỏi Tôi ngốc mà ... nên hỏi lung tung ... Thì tôi thừa nhận thật lòng ... "Cái tôi, ... bởi, ... tại, ...vì," ... mong chẳng còn ! Người ta nói tôi luôn ghi nhớ ... Cảm ơn người ... nhắc nhở ..."hay quên" Phải, ...tâm người thật là hiền ... ![]() Khó mà lại dễ ... lạ - quen công bằng ! Người ta bảo tôi rằng ... mọi lúc ... Dẫu thăng trầm ...trong đục ra sao ... (hihihi) Phải "nice" ... bất cứ lúc nào ...., Với người ... đấy nhé ... mau mau ngoan nè ! Thấy người nói tôi nghe .... ấm ức (thiệt áh) Muốn chối từ ... bất lực ... đành thôi (sao mình hiền vậy ?) Thì "nice" ... thấy ghét đì tôi ... Tôi nhè ... ngập lụt ... cuốn trôi ... bây giờ ! Ừ ... mà phải tôi khờ quá nhỉ ... Khóc làm gì ... tôi bị... nguy to Biết bơi ... người ngáy khò khò (sướng dữ) Còn tôi ... lặn ngụp .... ai lo đây người !!! (ác quá) Ai biểu chọc tôi hoài ... hổng biết ! Để tôi buồn da diết càng thêm... (hic hic) Hứa rồi phải khắc trong tim ... (ai ép đâu nè) Làm tôi vui mãi ... dù đêm hay ngày !!! ... nếu không nhớ thì ... nhắc ghế lại trèo lên wính ráng chịu ... hay lại bảo "khều khều" nhột quá hổng đau, bởi người ta khác thường, không giống những người thường ...phải hôn hả người ta ?! Bài thơ này tặng người ta ...... vì chỉ có người ta đọc mới hiểu thôi ! Ai biểu "người ta cứ chọc" tôi hoài ! Nhưng đã chọc cho tôi cười ...! AT August 11, 2007 Xuân an lạc trăm hoa cười đua nở Như Tình Yêu là hơi thở trong lành Và Hạnh Phúc không chỉ tình trai gái Còn bao Tình Thân Ái ở chung quanh ![]() ... Yêu là chia một quả tim Là trao một nửa, là thêm một lần ...! |
| ||||
| NGUYỆN CẦU TRONG NHỮNG NIỀM ĐAU! Trong rộn rã nụ cười chưa trọn vẹn Bao niềm vui đầy hứa hẹn chợt tan Không kịp lời cầu cứu với than van Thì xác cuốn trôi giữa ngàn sóng dữ ...! Sóng ập đến trong kinh hoàng vũ trụ Cho trần gian nhân loại nát tan lòng Ôi máu tươi hòa nước biển tuôn dòng! Ôi thảm cảnh quay cuồng trong tâm thức! Sóng ập đến trong kinh hoàng bất lực Chẳng còn hơi, còn sức để kêu gào! Phút sau cùng ngơ ngác giữa niềm đau Còn tức tưởi, còn nghẹn ngào vô tận! Chết chẳng biết vì sao mình bạc vận? Con khóc cha, khóc mẹ, khóc ông bà ... Vợ khóc chồng trong thảm thiết kêu la ... Chồng khóc vợ, khóc họ hàng thân thuộc ... Ta cũng khóc dù chẳng cùng núm ruột Bởi tình người, tình nhân loại thế gian Bởi con tim máu cũng chảy tuần hoàn Bởi khối óc đâu phải là vô giác! Ôi bao cảnh thương tâm còn ghi tạc Thấy hồn đau và tâm trí hãi hùng Sóng từng cơn ào ạt tới trùng trùng Thân ngụp lặn vẫy vùng trong sóng biển! Trời ủ dột một màu tang đưa tiễn ... Đất phân thân đón nhận những quan tài Lửa ngụt trời thiêu rụi những hình hài Hồn rũ rượi chẳng tìm ra định hướng ...! Ta chia sớt khổ hình trong tưởng tượng Mà lệ tuôn, mà lòng xót, dạ đau ... Bao nén hương nghi ngút khói trên đầu Lời kinh niệm ta nguyện cầu siêu thoát ...! Mong tất cả tiêu diêu miền cực lạc Hồn siêu thăng yên nghỉ cõi Niết Bàn ... Hồn thảnh thơi hằng sống chốn Thiên Đàng ... Hồn hoan hỉ bên A-la Đức Thánh ... Cầu tất cả bao linh hồn nhận lãnh Ánh hào quang tỏa rọi những ân thiêng Hồn nhẹ nhàng, thanh thản, trí bình yên Lãng quên hết bao lụy phiền thế tục ... Người ở lại ... xin bình an tâm thức Nén sầu thương sống trọn kiếp trần ai! Biết làm sao tránh khỏi những thiên tai Vì Thượng Đế đã ban phần định số ...! Hãy gắng sống dù vui, buồn, sướng, khổ Vì ngày mai ai biết tới phiên mình Sẽ xa lìa trần thế, kiếp nhân sinh Thì sống, chết chẳng do mình định đoạt! Cả thế giới chia niềm đau tan tác !!! Đã chung lòng, góp sức, tạo niềm tin ... Xin tri ân, tạc dạ, những chân tình! Cùng chia sớt trong nỗi buồn nhân loại!!! Tưởng Niệm Sóng Thần 26/12/04 AiTinh AT Xuân an lạc trăm hoa cười đua nở Như Tình Yêu là hơi thở trong lành Và Hạnh Phúc không chỉ tình trai gái Còn bao Tình Thân Ái ở chung quanh ![]() ... Yêu là chia một quả tim Là trao một nửa, là thêm một lần ...! |
| ||||
| NGHE XÓT XA DÂNG TẬN ĐÁY LÒNG ! Nghe xót xa dâng tận đáy lòng Như vừa sống lại giữa cuồng phong Kiếp người bèo bọt đời hoang phế Mầm nụ chưa đầy, rụng mất bông! Ta xót xa đau một kiếp người Đời tàn cuộc sống có gì vui ? Lao vào vực thẳm chân run rẩy Từng bước thăng trầm chẳng nghỉ ngơi Ta tiếc cho em mất một thời Học trò áo trắng tuổi rong chơi Thơ ngây đã thế bằng ve vuốt Pha nét phong trần với lả lơi Đọc bao dòng chữ tim ta nhói Đất nước mình nay đến thế sao ? Bao nhiêu cùng khốn và khát đói Dân khổ, mặc dân cứ thét gào! Ông trên phè phỡn trong khoái lạc Thổn thức cầu xin trinh nữ la "Hoạn thư nổi máu ghen thù tạc Dụ dỗ chồng bà giết chẳng tha ... Rồi bao ông lớn lừa trẻ nhỏ Đạo đức suy đồi, thích cưỡng dâm Bao nhiêu đau đớn và tủi nhục Như chính thân mình nhận vết đâm ...! "Ôi chao non nước, còn chi nước!" Ưu tú còn không những đảng viên ? No cơm ấm áo đời dân tộc Hay bóc lột người chiếm của riêng!? Có những lương tâm thức dậy đòi Nhân quyền, dân chủ, tự do thôi Cực hình, án xử dành cho sẵn Mà chẳng bao giờ được hé môi! Giờ đây còn có nhiều em bé Rời bỏ học đường đến quán bar Miệng còn non nớt bay mùi sữa Cũng muốn thử mùi bán thịt da ...! Em có nghe chăng tiếng sụt sùi Trong niềm hối hận, ướt vành môi Luân thường đạo đức và giá trị Em biết gì không? hỡi em tôi! Sao mãi chạy theo cái suy đồi Thả mình trong hút sách ăn chơi Tự do nào phải là sa đọa Mà bán thịt da để kiếm lời! Ta muốn cho em biết tận cùng Ta thèm chia xẻ nỗi đau chung Em đừng đánh mất đời cao đẹp Hãy giữ tâm hồn trọn khiết trung! Nghe xót xa dâng tận đáy lòng Nỗi buồn non nước, nỗi buồn chung! Đành thôi bởi thói đời cay nghiệt Ai giữ tâm mình khỏi chuyển rung ...? Ta vẫn thấy thương ngập cả hồn Nguyện Trời, Phật, Chúa, Mẹ ban ơn! Cho tình non nước, tình dân tộc Vững mạnh, vun bồi, được lớn khôn ...! AiTinh 2005 AT Xuân an lạc trăm hoa cười đua nở Như Tình Yêu là hơi thở trong lành Và Hạnh Phúc không chỉ tình trai gái Còn bao Tình Thân Ái ở chung quanh ![]() ... Yêu là chia một quả tim Là trao một nửa, là thêm một lần ...! |







Linear Mode