| ||||
| Lục Bát Lục Bát là loại thơ Sáu Tám, một câu sáu và một câu tám. Bài thơ lục bát luôn đươ.c bắt đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát. Lục Bát là thể thơ thông dụng nhất, vì cách làm và gieo vần tương đối đơn giản. Lục= sáu chữ --- chữ 2 Bằng, 4 trắc, 6 Bằng Bát= tám chữ --- chữ 2 bằng, 4 trắc, 6 bằng, 8 bằng Trong thơ lục bát, chữ thứ sáu của câu Lục, vần với chữ thứ sáu của câu Bát. Chữ thứ tám của câu Bát vần với chữ thứ sáu của câu Lục kế tiếp và cứ theo quy luật đó cho đến hết bài thơ. x B x T x B(v) x B x T x B(v) x B(v) v= vần Ví dụ : Còn đâu hoa tím năm nào Còn đâu năm tháng ngọt ngào bên nhau Ngày xưa hoa tím anh trao Em đem hoa tím cất vào tuổi mơ Tình ta thuở ấy ngây thơ Tựa như cánh bướm lượn lờ cung hoa Là tia nắng ấm chan hòa Keo sơ gắn bó mặn mà cùng nhau Giờ đi không một câu chào Để cành hoa tím phai màu yêu thương |
| ||||
| Thể Thơ Thất Ngôn (hay còn gọi Tứ Tuyệt) Thất ngôn đơn giản là thể thơ gồm bốn câu mỗi đoạn, và mỗi câu được mang bảy chữ, được xắp theo luật như sau: Bốn câu được chia thành hai cặp: Một cặp mang thanh T B T (trắc, bằng, trắc) Một cặp mang thang B T B (bằng, trắc, bằng) Hai cặp này có thể đặt xen kẽ, hoặc đối xứng tùy ý, miễn sao nghe êm tai là được. Trong từng câu, những chữ mang thang Trắc Bằng bắt buộc phải là các chữ 2, 4, và 6 của mỗi câu. Như vậy chữ thứ hai và thứ sáu luôn mang cùng một thanh còn chữ thứ tứ thì ngược lại. Ví dụ : Tình gởi (T) cho em(B) những tháng (T) ngày (V) Tình còn (B)vang vọng (T)nổi chua (B) cay (V) Giận hờn (B)anh gỏi (T) theo mưa (B) bảo Chỉ giữ (T) lại lòng (B) chút đắng (T) cay (V) Mùa thu (B) đã đến (T) cả đời (B) anh (V) Dành trọn (T) cho em (B) những đoạn (T) đành (V) Nước mắt (T) long lanh (B) viên ngọt (T) quý Tình mình (B) hư ảo (T) giáng mong (B) manh (V) by: Mạc Nhân Hai câu đầu theo luật T,B, T và B, T, B. Được đặt xen kẽ nhau. Thơ thất ngôn không hẳn phải gò bó vào một luật TBT BTB như trên, các bạn có thể thay đổi uyển chuyển để làm một bài thơ hấp dẫn hơn nhưng vẫn đúng luật, sau đây là một số dạng như sau: xBxTxBx/xTxBxTx/xBxTxBx/xTxBxTx, xTxBxTx/xBxTxBx/xBxTxBx/xTxBxTx, xBxTxBx/xTxBxTx/xTxBxTx/xBxTxBx, xTxBxTx/xTxBxTx/xBxTxBx/xBxTxBx , xBxTxBx/xBxTxBx/xTxBxTx/xTxBxTx ...v.v.. x = tự do...... sao cũng được Ví dụ : xBxTxBx/xTxBxTx/xBxTxBx/xTxBxTx, Trăng đêm hờn tủi ngỡ tình phai Gió quyện mây bay sỏi dốc dài Em về anh luyến lưu tình mãi Bóng dáng yêu kiều đã lụy ai |
| ||||
| Bát Ngôn Bát Ngôn là thể thơ tám chữ, tức là mỗi dòng trong đoạn thơ sẽ có tám chữ. Làm thơ Bát ngôn dễ dàng hơn những thể thơ khác rất nhiều vì không bị luật thơ gò bó như những thể loại khác: Câu đầu tiên của bài thơ thì có thể tự do mà làm, vì không phải theo khuôn khổ nào hết, bắt đầu từ câu hai và ba thì chữ cuối của câu hai và câu ba phải theo cùng vần, trắc trắc, hoặc bằng bằng. cứ hai cặp trắc lại đến hai cặp bằng cho đến hết bài thơ. Câu cuối cùng cũng tương tự câu đầu. không cần phải vần với câu nào hết, nhưng nếu chữ cuối của câu cuối có thể vần với chữ cuối câu đầu thì sẽ hay hơn. Vì Bát ngôn không có quá gò bó, từ ngữ bạn dùng sẽ làm bài thơ trở nên hay hơn. chỉ cần uốn nắn, uyển chuyển dùng từ sẽ tạo ra một bài thơ thiệt hấp dẫn Ví dụ : Thu chẳng biết trong biển mù lặng lẽ (T) Lá thu vàng nằm chết nhớ vì thu (B)(V) Màu cháy bỏng thiêu đốt tim ngục tù (B)(V) Lòng thu đấy ai là người chia sẻ (T) |
| ||||
| Thơ Tứ Ngôn (4 Chữ) Thơ tứ ngôn là loại thơ có thể gọi là đơn giản nhất bởi vì luật bằng trắc chỉ được áp dụng cho chữ thứ hai và chữ thứ tư trong câu mà thôi. Nếu chữ thứ hai là bằng thì chữ thứ tư là trặc và ngược lại nếu chữ thứ hai là trắc thì chữ thư tư là bằng. Cách gieo vần củ thể thơ này cũng được chia làm hai loại thường được gọi là cách gieo vần tiếp, và cách gieo vần tréo thí dụ: cách gieo vần tiếp Tuyết rơi buốt lạnh Nhớ kẻ phương xa Nước mắt nhạt nhòa Một đời hiu quạnh thí dụ: cách gieo vần tréo Em ở chốn này Hiu hắt chơi vơi Nơi đó có hay Người xưa vẫn đợi Trên đây là hai cách gieo vần được dùng phổ biến cho thể thơ Tứ ngôn này. Tuy nhiên, vẫn còn một cách gieo vân nữa, cách này ít ai dùng đến: thi dụ: Cách gieo vần ba tiếng Dĩ vãng nhạt nhòa Người đi vội vã Còn tôi đứng lại Thương tiếc xót xa |
| ||||
| Thơ Ngũ Ngôn (5 chữ) Cũng giống như thơ 4 chữ, nếu chữ thứ hai trong cần là bằng thì chữ thứ tư là trắc và ngược lại. Cách gieo vần của thể thơ này cũng được chia làm hai loại thường được gọi là cách gieo vần ôm, và cách gieo vần tréo thí dụ: Gieo Vần Ôm: chữ thứ năm của câu hai và ba trong mỗi đoạn vần với nhau theo cùng một âm, và vì được đặt vào câu hai và ba nên được gọi là gieo vần ôm Ví dụ : Vầng trăng vẫn miệt mài Dõi theo người viễn xứ Ngần ấy lời tình tự Khúc dạ sấu đêm nay Gieo vần tréo Ví dụ : Người đi về chốn ấy Khiến tôi nhớ ngẫn ngơ Sao chẳng hồi âm vậy Để tôi mãi ngóng chờ |
| ||||
| Thơ Sáu Chữ Cách gieo vần của thể thơ này được chia làm hai loại: gieo vần ôm, và cách gieo vần tréo còn luật bằng trắc thì chưa thấy được áp dụng theo bất cứ quy định nào thí dụ: Vần Ôm Nếu ngày mai ta xa nhau Em sẽ quay về kỷ niệm Hồn tái tê dần chết lịm Ôm nhung nhớ của thuở nao thí dụ: Vần Tréo Quê Hương là gì hả mẹ? Mà Cô Giáo dạy phải yêu Quê hương là gì hả mẹ? Mà ai đi cũng nhớ nhiều |
| ||||
| Song Thất Lục Bát Thể thơ Song Thất Lục Bát này là của riêng Việtnam ta, cho nên luật thơ không gò bó theo các kiểu thơ khác . Thơ Song Thất Lục Bát gồm mỗi đoạn có 4 câu, hai câu đầu là Song Thất, có nghĩa là mỗi câu có 7 chữ, hai câu cuối là Lục, Bát câu thứ ba sáu chữ, câu thứ 4 tám chữ được xắp theo luật bằng trắc như sau: x x x x B x T(v) x x B x T(v) x B(v) x B x T x B(v) x B x T x B(v) T B(v) x = tự do B = thanh Bằng T = thanh Trắc v = vần với nhau đây là luật thơ trong một đoạn, để có thể nối thêm đoạn nữa thì có thể theo luật sau: câu thứ thư của đọan một: x B x T x B(v) T B(v) Câu thứ nhất đoạn hai: x x x x B(v) x T(v) hoặc câu thứ thư của đọan một: x B x T x B(v) T B(v) Câu thứ nhất đoạn hai: x x B(v) x x x T(v) thí dụ: (các chữ viế HOA là vần với nhau, các chữ có thêm (*) là nối liền hai đoạn) Thủa trời đất nổi cơn gió BỤI Khách má hồng nhiều NỖI truân CHUYÊN Xanh kia thăm thẳm từng TRÊN Nào ai gây dựng cho NÊN nỗi NÀY * Trống Trường Thành lung LAY * bóng NGUYỆT Khói Cam Tuyền mời MỊT khúc MÂY Chín tầng gươm báu trao TAY Nửa đêm truyền Hịch đợi NGÀY xuất CHINH* thơ cổ Ví dụ : Một chiếc lá thu rơi (B) trong GIÓ Em ngẫn nhìn (B) theo NÓ (T)(V) ngẫn NGƠ (B) Lá sầu (B) lá rụng (T) thờ Ơ (B) Em buồn (B) em khóc (T) chơ VƠ (B) một (T) MÌNH* (B) Trời thu thương (B) cảm TÌNH* ai LỤY (T) Đã khổ đau tiều TỤY ngày ĐÊM Lỡ làng duyên chẳng ấm ÊM Thì ta có nhớ chỉ THÊM muộn PHIỀN |
| ||||
| Song Tứ Lục Bát Hai câu đầu là bốn chữ, câu thứ ba là sáu chữ và câu cuối là tám chữ theo luật như sau: Đoạn một x B x T(v) x T x B(v) x B x T x B(v) x B x T x B(v) T B(v*) đoạn hai: x B x T(v*) x T x B(v) x B x T x B(v) x B x T x B(v) T B(v) nếu như bắt đầu câu thứ nhất là T B T thì câu 4 chữ thứ hai phải là B T B, nhưng câu thứ ba thứ tư đều là B T B như bình thường Ví dụ : Tình yêu (B) chào ĐÓN (T)(V) Nay đã (T) không CÒN (B)(V) Tương tư (B)hoa đã (T) héo HON (B)(V) Ai làm (B) nát vỡ (T) tình SON (B) thuở (T) NÀO (B)(V*) Ôi bao (B) phiền NÃO (T)(V*) Giết chết (T) hồn NHAU (B)(V) Cuộc đời (B) buồn đến (T) thế SAO (B)(V) Người ơi (B) có biết (T) lệ TRÀO (B) ngập (T) TIM (B)(V) |
| ||||
| Đường Thi ( Thơ Đường Luật ), Thất ngôn bát cú Thơ Đường còn được gọi là " Đường Thi Thất Ngôn Bát Cú" tạm dịch là Đường thơ bảy chữ tám câu. Tám câu này được phân ra thành bốn cặp ( cặp là hai câu giống nhau theo luật BẰNG TRẮC) Cặp 1: gồm câu một và câu tám Cặp 2: gồm câu hai và câu ba cặp 3: gồm câu bốn và câu năm cặp 4: gồm câu sáu và câu bẩy Những chữ cuối của câu số 1, 2, 4, 6, và 8 là những chữ mang vần trong bài thơ và thường thì mang thanh BẰNG và bắt buộc phải vần với nhau theo cùng một âm, những chữ này có thể mang thanh TRẮC, nhưng chưa bao giờ thấy cả. Những chữ cuối của những câu 3, 5,và 7 mang thanh TRẮC và KHÔNG PHẢI VẦN với nhau (nếu chữ cuối của những câu 1, 2, 4, 6, và 8 là thanh TRẮC thì có lẽ chữ cuối của những câu này mang thanh BẰNG) Cũng giống như Thất Ngôn Tứ Tuyệt, luật bằng trắc trong Đường Thi cũng chỉ áp dụng cho những chữ 2, 4, và 6 trong mỗi câu mà thội Nếu mở đầu bài thơ bằng TBT thì bài thơ sẽ theo luật như sau: câu 1: T B T câu 2: B T B câu 3: B T B câu 4: T B T câu 5: T B T câu 6: B T B câu 7: B T B câu 8: T B T thí dụ: Tạo Hóa vẫn bày những cuộc chơi Để trêu để ghẹo kiếp con người Chữ yêu người bán hai quan lẻ Chữ khổ em mua một lượng đôi Ðể khóc nhân tình đen đáy mắt Ðể cười nhân thế bạc hơn vôi Buông tay giữa chợ đời trôi dạt Nên cuộc đời em đã bỏ rồi Nếu mở đầu bài thơ bằng B T B thì bài thơ sẽ theo luật như sau: câu 1: B T B câu 2: T B T câu 3: T B T câu 4: B T B câu 5: B T B câu 6: T B T câu 7: T B T câu 8: B T B thí dụ: Người đời mãi gọi em nàng Thơ Như cánh sen hồng chẳng bợn nhơ Em đến mang niềm vui kết tụ Em đi để nỗi nhớ giăng tơ Bao người ngày lại tìm giao cảm Bao kẻ đêm về dệt ước mơ Ước nguyện chúc em luôn sắc thắm Mời thời gian cát bụi hoen mờ Điểm khó nhất trong Đường Thi là câu số ba và câu số bốn, bởi vì hai câu này được gọi là hai câu THỰC và hai câu năm và câu sáu là hai câu LUẬN, hai cặp câu này luôn luôn đối nhau, DANH TỪ(noun) đối DANH TỪ, ĐỘNG TỪ (verb) đối ĐỘNG TỪ, TỈNH TỪ (adjective) đối TỈNH TỪ, quan trọng hơn cả là hai cặp câu này phải Ý đối Ỵ Điểm cao nhất của Đường Thi là có thể HỌA THƠ với người khác, nghĩa là sẽ dùng lại tất cả những chữ mang VẦN của bài thơ muốn họa tức là bài thơ của người đầu tiên ( thường được gọi là bài Xướng Thi ) để diễn tả theo ý thơ của mình. |






Linear Mode