| ||||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| |||
| Truyền Thuyết Trăm Trứng Trích truyện từ bản dịch Lục Độ Tập Kinh (Thế kỷ 3) 23 Xưa có Mẹ góa, làm thuê cho một nhà giàu, trông coi vườn ruộng. Người chủ có việc, cho ăn quá giờ. Đến lúc định ăn, một vị Sa Môn tới xin. Lòng nghĩ: "Người này dứt dục bỏ tà, nết hạnh thanh chân. Cứu người đói bốn biển không bằng cúng một chút cho bậc chân hiền giới hạnh thanh tịnh". Bèn đem phần ăn để hết vào và một cành hoa sen để lên bát mà dâng. Đạo nhân hiện thần thông, phóng ra ánh sáng. Người mẹ vui vẻ khen: "Đây đúng là bậc thần thánh sao? Nguyện tôi sau này sinh được một trăm người con như vậy". Mẹ goá chết, hồn đi, muốn làm con nối dõi người phạm chí, nên hồn tụ lại chỗ tiểu tiện của Phạm Chí. Con nai liếm tiểu tiện, liền cảm thụ thai. Mãn ngày, sinh một bé gái. Phạm Chí nuôi nấng, lúc hơn mười tuổi, mặt mày sáng rỡ, dáng vẻ yêu kiều, ở nhà giữ lửa. Cô ham chơi với nai, không ngờ lửa tắt. Cha về giận dữ, sai đi xin lửa. Cô đến xóm người, mỗi bước mọc một hoa sen. Người chủ có lửa nói: "Cô đi ba vòng nhà ta, ta sẽ lấy lửa cho cô. Cô đi theo lời, hoa mọc trên đất quanh nhà ba vòng. Hành giả nghỉ chân, không ai không lấy làm lạ. Phút chốc tiếng đồn đến tai quốc vương. Vua sai thầy tướng xem tướng sang hèn. Thầy nói: "Ắt có con nối giòng Thánh Truyền ngôi vô cùng. Vua sai Hiền Thần đủ lễ rước về. Mặt hoa đẹp đẽ, cung nhân không ai bằng. Mang thai đủ ngày, sinh ra một trăm cái trứng, Hoàng Hậu cung phi cho đến tì thiếp không ai là không ghét. Bèn chặt cây chuối khắc hình tượng quỉ, đợi khi sinh, lấy tóc phủ lên mặt, bôi nước bùn dơ lên cây chuối rồi đem trình vua. Bọn yêu che sáng, vua lầm tin theo. Lũ tà lấy hũ đựng trứng, bịt kín miệng lại, quăng xuống giòng sông. Trời Đế Thích xuống lấy ấn đóng miệng lại, chư thiên theo giữ, xuôi dòng dừng lại như trụ cắm đất. Vua nước hạ lưu đang ở trên đài, xa thấy giữa dòng có hũ trôi xuống, ánh sáng rực rỡ, như có oai trời. Bèn vớt lên xem, thấy dấu ấn Đế Thích, mở có trăm trứng, ra lệnh trăm người đàn bà ấp nuôi ấm nóng. Đủ ngày thành hình, nở ra trăm người con trai, sinh ra đã có trí thượng thánh, không dạy mà vẫn tự biết, nhan sắc hơn đời, tướng tốt hiếm có, tài cán thế lực hơn người trăm lần, tiếng nói vang như sư tử rống. Vua liền sắm đủ một trăm voi trắng, yên cương bảy báu, để cho con thánh nối dòng, khiến đi chinh phạt lân quốc. Bốn phương hàng phục, đều đến xưng thần. Về sau sanh tâm kiêu căng Lại đi đánh cả Cha Mẹ nước mình sinh ra . Cả nước lớn bé không ai là không run sợ. Vua hỏi: "Ai có khả năng chống lại lũ địch này?". Phu nhân nói: "Đại vương đừng sợ, hãy xem quân địch từ đâu, công thành hướng nào thì đến đó dựng đài quan sát. Tôi sẽ vì vua mà hàng phục chúng. Vua liền ra xem quân địch từ đâu, rồi cho dựng đài. Người mẹ lên đài, cất tiếng nói: "Tội lớn phản nghịch có ba. Không xa bọn tà, đời sau chịu tội, đó là một. Sống không biết cha mẹ, làm ngược hiếu hạnh, đó là hai. Ỷ thế giết cha mẹ, độc ác với ba ngôi báu, đó là ba. Ôm giữ ba nghịch, ác ấy không gì che nổi, các ngươi há miệng, chứng cớ hiện ngay". Người mẹ nắm vú mình, trời khiến sữa bắn, khắp miệng trăm con. Cảm sự tinh thành, uống sữa lòng buồn. Tất cả đều nói: "Đây chắc mẹ ta". Nước mắt ràn rụa, chắp tay bước lên, cúi đầu hối lỗi. Mẹ con mới gặp, không ai là không khóc lóc. Hai nước hòa thuận, tình hơn anh em, tám phương vui mừng, không ai là không khen hay. Các con thấy đời Vô Thường như Huyễn, giã từ cha mẹ học đạo, xa đời dơ bẩn. Chín mươi chín người con đều chứng Duyên giác. Một người ở lại trị nước. Vua cha băng hà, bèn lên làm vua, đại xá các tội, phá bỏ lao ngục, san bằng hào ải, miễn tha tôi tớ, an ủi người hiếu đễ, nuôi dưỡng kẻ cô độc, mở kho tàng bố thí lớn, tùy ý dân muốn mà cho, lấy mười điều thiện làm phép nước, mọi người đều vâng đọc, nhà có con hiếu, dựng Chùa lập Tháp, cúng dường Sa Môn, đọc Kinh luận Đạo, miệng không bốn ác, độc dữ tiêu hết, thọ mệnh càng dài. Thiên Đế nuôi giúp như cha mẹ nuôi con. Phật bảo các Sa Môn: "Người ở lại làm vua là thân ta. Vua cha nay là Bạch Tịnh, mẹ là Xá Diệu". Hạnh thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. |
| |||
| Trần Trúc-Lâm Thông thường ai cũng nghĩ rằng đạo Phật chỉ mới được truyền sang tây phương trong các thế kỷ gần đây mà thôi, mà quên rằng trong nhiều thế kỷ trước tây lịch PG đã thấm nhuần vùng Tiểu Á và tây bắc Ấn, rồi ảnh hưởng trên cả nền triết học Hy-lạp và giáo lý của vài tôn giáo lớn có nguồn gốc tây phương. Phật tử Việt nam vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm giáo pháp truyền từ Trung quốc nên ít biết đến sự giao hòa của hai nền văn hóa Hy-lạp và PG khởi đầu rất sớm ở vùng đất này. Ngay cả khi đức Phật Thích Ca còn tại thế, vùng đất xa xôi này đã tiếp xúc với PG rồi. Trong một bộ kinh của Thượng tọa bộ (Theravada) có ghi câu chuyện hai thương nhân, tên Tapassu và Bhallika từ xứ Bactria tìm đến viếng đức Phật và đã trở thành đệ tử. Lúc về xứ họ đã xây dựng nhiều đền đài thờ Phật. Khi Alexander xâm chiếm Bactria vào 329-327 TTL (cùng khỏang với thời Chiến quốc bên Tàu: 403-221 TTL), thì vùng này đã thuần PG. Đến thời của hòang đế Asoka Maurya (từ 269 đến 232 TTL), thì biên cương của Ấn Độ được mở rộng bao gồm luôn vùng Gandhara nhờ đuổi được quân Hy lui về bên kia dãy núi Hindu-Kush. Ông cũng đã gởi nhiều đòan truyền giáo được ra hải ngọai để truyền bá Phật pháp, do đó PG đã được lan tràn mạnh mẽ hơn. Chính từ những hạt giống PG do hoàng đế Asoka gieo ở vùng này dần lớn mạnh và đã để lại ảnh hưởng khá sâu đậm trong vùng tây bắc Ấn, và còn lưu mãi đến nay như ảnh tượng đức Phật theo mỹ thuật Hy-lạp, những ý niệm manh nha của PG đại thừa phát sinh từ những trung tâm văn hóa PG có một thời rất rực rỡ, và một bộ kinh không kém phần quan trọng, đó là bộ Milinda-Panhà , đã được Việt dịch là "Di Lan Ðà vấn kinh" hay dưới nhiều tên tương tự. . |
| |||
| Duy ngã độc tôn Tuần báo Giác Ngộ -------------------------------------------------------------------------------- HỎI: Tìm hiểu về "tuyên ngôn" Phật đản sanh, chúng tôi thấy đồng nhất nơi hai câu đầu: "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Tuy nhiên, còn hai câu sau của bài kệ này thì mỗi người dẫn một khác, đơn cử như: "Ngã tùng kim nhật, sanh phần dĩ tận" hay "Vô lượng sanh tử, ư kim tận hỷ". Xin cho biết câu nào thực sự chính xác nhất. ĐÁP: Nói về bài kệ Đản sanh, tức “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, vô lượng sanh tử, ư kim tận hỷ" có khá nhiều chi tiết cần phải bàn, vì các tư liệu ghi chép lại không đồng nhất. Ngày nay, tuyên bố "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”, mặc nhiên được xem là Phật ngôn phổ biến, thông dụng nhất. Thực tế cho thấy, khi nói về "tuyên ngôn" Phật đản sanh hay trên các lễ đài Phật đản đều dùng "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Thế nhưng, tra cứu Kinh tạng, chúng tôi thấy hầu hết trong các kinh điển Hán tạng rất ít (hoặc không) dùng "duy ngã độc tôn” mà chủ yếu là "duy ngã vi tôn". Đơn cử như: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn" (Đại Chính, Trường A Hàm I); "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn" (Đại Chính, Kinh Tu Hành Bản Khởi, q1); "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn" ( Đại Chính, Kinh Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi, q1); "Thiên thượng thiên hạ, tôn vô quá ngã giả" (Đại Chính, Kinh Dị Xuất Bồ Tát Bản Khởi) v.v… Cũng trong Đại Chính, “Duy ngã độc tôn” lại được tìm thấy trong sử truyện như Phật Tổ Thống Kỷ (q34), Đại Đường Tây Vực Ký (q6) và Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (q22)… Ngay cả Phật Quang đại từ điển, mục "Duy ngã độc tôn” cho rằng được dẫn trong kinh Trường A Hàm, nhưng thực tế kinh này chủ yếu nói "duy ngã vi tôn". Đành rằng "duy ngã độc tôn" và "duy ngã vi tôn" về ý nghĩa không mấy khác nhau, song cụm từ "duy ngã độc tôn" mà chúng ta dùng phổ biến hiện nay có thể ảnh hưởng từ tinh thần của sử truyện như đã dẫn. Hai câu kệ đầu đã có đôi chút khác biệt, hai câu kệ kế tiếp lại càng dị biệt hơn khi đối chiếu giữa các kinh văn. Theo Đại Chính, “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, tam giới giai khổ, hà giả hà lạc" (Kinh Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi, q1); "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, yếu độ chúng sanh, sanh lão bệnh tử" (Trường A Hàm I); "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, tam giới giai khổ, ngô đương an chi” (Kinh Tu Hành Bản Khởi, q1); "Thiên thượng thiên hạ, vi thiên nhân tôn, đoạn sanh tử khổ, tam giới vô thượng…” (Kinh Phổ Diệu); "Ngã ư nhất thiết nhân thiên chi trung tối tôn tối thắng. Vô lượng sanh tử, ư kim tận hỷ" (Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả, q1); "Thế gian chi trung, ngã vi tối thượng, ngã tùng kim nhật, sanh phần dĩ tận" (Kinh Phật Bản Hạnh Tập, q8) v.v và v.v… Như vậy, hai câu cuối của bài kệ Đản sanh có vô vàn sự khác biệt về văn tự, nội dung và ý nghĩa. Sự phong phú này (như đã dẫn) nhằm tôn vinh, ca ngợi sự hy hữu, thù thắng của sự kiện Phật đản sanh. Do đó, khi trích dẫn bài kệ Đản sanh, theo chúng tôi, tùy theo mỗi kinh văn mà chúng ta có một bài kệ khác nhau, bài kệ nào cũng đúng cả (nếu trích dẫn chính xác). Ngoài ra không có một bài kệ nào thuộc loại "chính xác nhất" như các bạn đã nêu. -ooOoo- |
| |||
| Đôn Hoàng Bản LỤC TỔ HUỆ NĂNG Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Mãn Giác Nhà Xuất Bản Tôn Giáo Hà Nội PL. 2547 - DL. 2003 Nguyên bản Pháp Bảo Đàn kinh mà tôi dịch đây là bản mới tìm được từ động Đôn Hoàng, vùng sa mạc Tân Cương, miền Trung Á. .....ngoài bản xưa nhất tìm lại được ở động Đôn Hoàng, viết vào khoảng những năm 830-860 (chính là bản tôi dịch), những bản khác là bản ; Huệ Hân (năm 967), bản Thiều Hồi (năm 1013), bản Tồn Trung (năm 1116), bản Bắc Tống (năm 1153). Ngoài ra có hai bản đáng lưu ý và được coi đầy đủ nhất là hai bản ở Nhật Bản, bản Đại Thừa Tự (Daijòji) và bản Hưng Thánh Tự (Kòshòji); Tôi cảm thấy cần thiết phải dịch lại nguyên bản xưa nhất của Pháp Bảo Đàn kinh và nhất là giới thiệu cho dân tộc Việt Nam một nền đạo lý chính thống đã nuôi dưỡng dân tộc ta suốt từ mười mấy thế kỷ nay. Không có ngài Huệ Năng thì chẳng bao giờ có đời Lý và đời Trần, hai triều đại quyết định tất cả tinh túy hồn tính của Việt Nam. Chẳng những ở Việt Nam mà thôi, nếu không có ngài Huệ Năng thì chẳng bao giờ có cái đạo Thiền, gọi là Thiền tông Trung Hoa và Triều Tiên, Zen của Nhật Bản và tất cả những gì người ta nói đến Thiền hiện nay ở Tây phương; Thiền tông đã ảnh hưởng toàn bộ đến văn hóa, học thuật Tây phương ở thế kỷ XX, và người đã thực sự sáng tạo ra Thiền tông lại chính là Huệ Năng chứ không phải Bồ Đề Đạt Ma; ngài Bồ Đề Đạt Ma chỉ là được truyền thống Thiền chọn lựa đứng tên danh dự mà thôi để linh động hóa tinh thần tạ ơn đối với Ấn Độ, quê hương tâm linh của Phật giáo nhân loại. Theo truyền thuyết, có đệ tử tạc tượng ngài, nhưng chính ngài Huệ Năng ngó tượng và mỉm cười: “Ngươi chỉ có tài nặn hình mà chẳng hiểu được tánh Phật”. Dù đây chỉ là đoạn văn do người sau thêm vào Tông Bảo của Pháp Bảo Đàn kinh, nhưng vẫn nói lên được cụ thể cái tinh thần vô tướng của nguyên ngữ khí của Huệ Năng. (Bản Tông Bảo có điều vô lý là ghi rằng Phương Biên, người tạc tượng, đã gặp Bồ Đề Đạt Ma, đến trước Huệ Năng năm đời Tổ). Ngũ Tổ trao truyền y pháp và ngôi Lục Tổ, lúc Huệ Năng mới có được khoảng 22 tuổi và chỉ non khoảng 23 tuổi . Ngài Huệ Năng thuyết pháp trên ba mươi mấy năm trời chung quanh vùng Quảng Đông và vùng biên giới Trung - Việt, và cả nước Trung Hoa lúc ấy không ai biết đến tên tuổi ngài cả, lúc ấy Thần Tú được trọng đãi ở triều đình Trung Hoa và được chính thức coi như Lục Tổ của Đông Sơn pháp môn (lúc đó chưa có phân biệt “Bắc Tú, Nam Năng” như ta thấy trong bản Đôn Hoàng và những hậu bản Pháp Bảo Đàn kinh). Khi ấy ngài Huệ Năng chỉ là một ông đạo sĩ “man rợ” tối tăm ở biên cương, chỉ có được một số môn đệ người Trung Hoa trung thành sùng bái, trong số đó có một người tên là Thần Hội; chính Thần Hội sau này đã khôi phục lại ngôi vị Tổ sư thứ sáu cho Huệ Năng và rao truyền đạo lý Đốn ngộ Bát nhã của Huệ Năng và đẩy lùi tất cả những trường phái Thiền tông khác đi vào bóng tối của lịch sử. Tất cả những sử gia Trung Hoa và ngoại quốc muốn viết gì về Huệ Năng đều lấy tài liệu chứng minh từ bộ Toàn Đường văn (Đài Bắc, 1961, 20 cuốn), nhưng theo giáo sư Yampolsky thì bộ “Bộ sách Toàn Đường văn” được biên soạn vào năm 1814 và sử dụng tạp nhạp tất cả những tài liệu một cách bừa bãi, và nhiều tài liệu đã được viết ra sau này và rất gần đây, thành ra không thể tin vào giá trị của những tài liệu ấy” (Yampolsky, op. cit., trang 31). Sau khi khảo xét rất kỹ lương xtất cả tài liệu liên quan đến Huệ Năng trong bộ Toàn Đường văn, Yampolsky phải đi đến kết luận rằng tất cả đều là ngụy tạo (op. cit., trang 59). Sau khi đã duyệt qua hàng ngàn tài liệu Trung Hoa và Nhật Bản, cùng những tài liệu khai quật ở Đôn Hoàng, Yampolsky đi đến kết luận rằng: “Chúng ta không có được những dữ kiện nào về Huệ Năng cả… (For Hui-Neng we have no facts…” op. cit., trang 60). “Chúng ta chỉ có thể kết luận rằng thực ra gần như không có gì để chúng ta có thể nói thực sự về Huệ Năng” (“We may only conclude that there is infacts, almost nothing that we can really say about him”, op. cit., trang 69). Theo Yampolsky, chúng ta chỉ biết chắc có một điều là có một người tên là Huệ Năng, một thiền sư có đôi chút tiếng tăm đương thời và sống đâu đó ở vùng miền Nam Trung Hoa”. Theo Yampolsky, chỉ có hai tài liệu đáng tin cậy: thứ nhất là Lăng Già sư tử ký (khai quật ở Đôn Hoàng), và tài liệu này chỉ nhắc đến tên Huệ Năng như là một trong mười học trò của Hoằng Nhẫn, chỉ thế thôi và không có ghi chép sự kiện gì khác; tài liệu thứ hai là bia ký của thi hào Vương Duy vào khoảng năm 740. Còn tất cả những tài liệu khác đều do những thời đại sau ngụy tạo. Trong bia ký của thi hào Vương Duy mà Yampolsky đã trích dịch ở trang 66-67 (op. cit.), chúng ta chỉ thấy Vương Duy ghi rằng: “Nơi quê quán của Thiền sư Huệ Năng không ai biết. Thiền sư sinh sống ở một thôn làng mọi rợ. Khi trẻ, học đạo với Hoằng Nhẫn, thiên tài của ngài được Ngũ Tổ ghi nhận và được trao truyền y pháp; Ngũ Tổ bảo ngài phải lìa bỏ (tức là lìa bỏ đất Trung Hoa), và trong mười sáu năm, ngài sống ẩn trốn với phường buôn bán dân ngu khu đen (tức là phường dân ngu khu đen ở Việt Nam). Từ hai dữ kiện lịch sử trên và dựa theo tất cả những bản khác nhau của Pháp Bảo Đàn kinh, và loại bỏ tất cả những gì có tính cách thần thoại hay truyền thuyết (và ngay cả bản Đôn Hoàng Pháp Bảo Đàn kinh chỉ được chép vào năm 830-860, gọi là do Pháp Hải ghi lại, chưa hẳn là nguyên bản của Pháp Bảo Đàn kinh mà những học giả Nhật cho rằng đã có một nguyên bản khác đã được viết vào khoảng năm 713-714 sau khi Huệ Năng viên tịch, bản này đã mất và chưa tìm lại được); . |
| |||
| Tề thiên đại thánh Nhiều người đọc Tây du ký rắt thích Tôn Ngộ Không, nhưng đôi khi trách Ngộ Không tánh khí quá ngang tàng. Người khác thi vui cười và coi đó là lối trào phúng vui nhôn, chứ chẳng cần để tâm đến các điều tàng ẫn bên trong. Thực ra cái ngông cuả Ngộ Không khá đặc biệt mà xưa nay ít ai để tâm xét tới. Để thấy điều đó, chúng ta sẻ lầ lượt xét qua nơi địa bàn xuát xứ và cung cách phát xuất các tác động cuả nhân vật Tề Thiên trong truyện. Trước hết, Ngộ Không xuất xứ ở biễn Đông trong nước Ao Lai. Mà chữ Lai có nghỉa là Lạc, có liên hệ đại tộc trong huyền sữ như Di Lai, Di Việt, Lạc Việt. Vì vậy nên nói Ao Lai cũng là cách diễn tã Ao Lạc, hay Ao Việt, hay Việt Trì, đều nằm trong miền có đão gọi là Bồng Lai. Ngộ Không xưng vương ở Thủy Liêm động chẳng khác nào như Lạc Long quân ở dưới Thủy phũ. Ngộ Không còn là lân bang với Long Vương, nơi Lão Tôn mượn được cây Kim cô thiết bảng, mà Long Vương và Lạc Long quân đều cùng mang họ Long trong huyết tộc Việt. Còn xét về cung cách xuất hiện thì Ngộ Không chẳng khác nào ông Bàn Cỗ thủy tổ cơ sở cuả Việt tộc. Cả hai đều độc lập, không cha không mẹ. Ngộ Không do tụ khí đá trời đất sinh ra , còn Bàn Cỗ thì có câu: “Hỗn mang chi sơ, vị thân thiên địa, Bàn Cỗ thủ xuất, thủy phân âm dương”. Cả hai đều tự cường tự lực, đến nỗi việc sinh ra cũng như tự sinh, đến lúc đi học thì chuyên chú về Trời Đất âm dương. Đặc biệt cái tinh hoa đươc kết đúc theo cơ cấu gọi là Huỳnh Đình, như trong câu “Gặp tiên thỏ thẻ đôi lời, Đâu nơi cực lạc đâu nơi Huỳnh Đình (hồi 1). Chữ Đình đây cùng một nghỉa với Động Đình Hồ, chỉ cái Nhà hay cái Động rỗng. Còn Hùynh là do chữ Hoàng đọc chại đi, có nghỉa là trống rỗng như trong cung Ngũ Hành, còn gọi là Ngũ Hoàng Cực, nên Huỳnh Đình có nghiả là Nhà Rỗng, vì nó nằm ở hành ngũ có tên là Huỳnh Vô Địa, tức²là trống rỗng chẳng có đất đai. Từ đây suy ra có liên hệ đến máu mũ hàng dọc với chiếc Trống Đồng ở chỗ Trống và Rỗng. Ông thầy dạy Ngộ Không tự xưng là “câu bồ đề”, mà hai chữ “bồ đề là ngộ”, và “câu là tất cả”, có ý nói là vị sư tổ hiểu hết tất cả đức Trời và đức Đất. Trong Lão Tôn đức Đất được biểu thị bằng cây Kim Cô Bãng rút ra từ lòng biễn Đông, còn đức Trời là được ăn uống những thứ qúy nhất trên thiên đình, như bàn đào, kim đan với thuốc trường sinh bất tữ, cho đến khi cần thì có quyền bắt Trời nhường ngôi. Việc nầy chẳng khác nào như ông Bàn Cỗ tự tay sắp đặt cả Trời Đất. Ngộ Không đã từng trách Phật tổ lẫn Lão quân và giết chết biết bao ma qũy, chẳng khác nào như Lạc Long quân đã giết hồ tinh, ngư tinh, mộc tinh. Ngộ Không còn tỏ ra mình là anh em với Hùng Vương, vì cũng có sách ước 72 phép thần thông biến hoá và chiếc gậy thần Kim Cô Bãng dũ sức vươn lên tận Trời hoặc rút nhỏ lại bằng chiếc kim. Cả 2 Sách ước và Gậy thần đều phát xuất ở kinh Dịch, một cuốn kinh duy nhất không chữ viết gọi là Kinh Vô Tự (bible sans écriture) trên cỏi trần tục nầy. Vì những lý do đó, chúng ta thấy Ngộ Không chẳng khác gì hơn là Hồn Triết gia, da cuã Ông Trường (khỉ sống lâu gọi là ông Trường). Đây là con cháu cuả những ông chống Trời được diễn giãi trong một số nhân thoại mà dân gian thường nhắc tới như các tên Bàn Cỗ, Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa, Lạc Long Quân, Hùng Vương, Tãn Viên, Thánh Giống. Đó là những mẫu người có số kiếp xuất hiện Không Cha Không Mẹ Không Trời Không Đất, hàm chứa những việc có tầm mức lớn lao như vũ trụ. Lê Hùng , Bruxelles (kỷ niệm lể Ascension 2004) |
| |||
| ĐỨC PHẬT CÓ PHẢI LÀ HOÁ THÂN CỦA THƯỢNG ĐẾ? HT. K.Sri.Dhammananda Thích Quảng Bảo dịch Đức Phật không bao giờ tuyên bố Ngài là con hay sứ giả của thần linh Thượng đế. Đức Phật là một chúng sanh độc nhất đã phấn đấu cho quả vị tự giác ngộ vo thượng. Không có một ai mà ngài xem như là bậc đạo sư của mình. Nhờ vào những nỗ lực cá nhân, Ngài tu tập hạnh Thập độ ba la mật: Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, trí tuệ, kiên định, từ tâm, xuất ly, chân thật và xả. Thông qua sự thanh tịnh tâm thức, ngài đã mở những cánh cửa đưa đến tất cả các tri kiến. Ngài chứng biết tất cả các pháp được biết, tu tập tất cả những pháp môn được tu tập và đoạn trừ tất cả các lậu hoặc phải được đoạn trừ. Thật vậy, trên cuộc đời này không có một bậc đạo sư nào có thể so sánh tương xứng với Ngài xét về lĩnh vực tu tập và chứng đắc quả vị. Ngài quá đặc biệt và bức thông điệp của Ngài quá chiếu sáng đến mức độ nhiều người thắc mắc không biết Ngài là gì chứ không thắc mắc nhiều về Ngài là ai? Những câu hỏi về Ngài là ai liên quan đến danh xưng, tuổi tác, nguồn gốc xuất thân, tổ tiên v.v…trong khi đó câu hỏi Ngài là gì liên quan đến địa vị của con người mà Ngài được tôn xưng. Ngài quá ‘thần thánh’ và cảm kích đến nỗi ngay cả vào thời Ngài, có nhiều người đã toan phong Ngài lên như là thượng đế hoặc là sự hoá thân của thượng đế. Ngài không bao giờ đồng ý với sự tấn phong như thế. Trong kinh Tăng Chi Bộ, Ngài nói: “Quả thực Như Lai không phải là một thiên thần, không phải là một Càn-thát-bà, chẳng phải là quỷ thần, cũng chẳng phải là người. Hãy biết rằng Như Lai là một vị Phật”. Sau khi giác ngộ, đức Phật không thể được phân loại như là một chúng sanh bình thường như mọi chúng sanh khác bởi lý do Ngài đã là một vị Phật, một chủng tộc đặc biệt hoặc là một loài chúng sanh đã giác ngộ. Tất cả các Ngài đều là Phật. Đôi lúc chư Phật thị hiện nơi cõi đời này, song có một số người đã nhầm lẫn ý kiến cho rằng đó là một vị Phật tương tự đã được hoá thân hoặc là xuất hiện trên cõi đời này nhiều lần. Trên thực tế, không chỉ có một đức Phật duy nhất mà có vô lượng vô biên đức Phật, nếu không thì không một ai có hy vọng chứng được quả vị Phật. Người Phật tử tin rằng tất cả mọi người đều có thể thành Phật nếu vị ấy tu tập những phẩm hạnh thành tựu và có thể đoạn trừ hoàn toàn những gốc rễ của vô minh nhờ vào những nỗ lực của tự thân. Sau khi giác ngộ, tất cả chư Phật đều như nhau xét về phương diện chứng đắc và kinh nghiệm Niết-bàn. Tại Aán độ, tín đồ của nhiều nhóm tôn giáo chính thống đã tìm đủ mọi phương cách để chỉ trích đức Phật bởi vì chính giáo lý khai phóng của Ngài đã cách mạng hoá xã hội Ấn độ thời bấy giờ. Nhiều người xem Ngài như là kẻ thù không đội trời chung trong khi số học thức ngày càng tăng cũng như nhiều người thuộc nhiều giai tầng khác nhau trong xã hội quy y tôn giáo của Ngài. Khi những người này thất bại trong sứ mệnh tiêu diệt Ngài, thì họ thay đổi chiến lược và gán cho Ngài với danh hiệu là hoá thân của một trong những vị thần linh của tôn giáo họ. Bằng cách này họ có thể hấp thụ Phật giáo vào tôn giáo của họ. Ơû một mức độ nào đó, chiến lược này có thể thành công tại Ấn Độ bởi vì qua nhiều thế kỷ nó đã góp phần cho việc làm suy tàn Phật giáo và hậu quả là nhổ tận gốc rễ Phật giáo khỏi mảnh đất thiêng liêng đã sinh ra Phật giáo. Ngay cả thế giới hiện nay, có một số nhà lãnh đạo tôn giáo đã tìm mọi phương cách nhằm hấp thụ đức Phật vào tín ngưỡng của họ với mục đích thu hút được tín đồ Phật giáo theo đạo của họ. Lý do cơ bản khiến họ làm như vậy là vì bằng cách tuyên thuyết rằng chính đức Phật đã tiên đoán rằng một vị Phật khác sẽ xuất hiện trên cõi đời này và vị Phật sau cùng sẽ trở nên phổ quát hơn. Một nhóm người đã phong cho một vị đạo sư đã trú vào khoảng thời gian 600 năm sau khi đức Phật Cồ Đàm nhập diệt là vị Phật sau cùng. Một nhóm khác lại cho rằng đức Phật tiếp theo đã đến Nhật Bản vào thế kỷ 13. Song có một nhóm khác lại tin rằng bậc sáng lập tôn giáo của họ đã xuất thân từ một dòng của những bậc đạo sư vĩ đại (như đức Phật Cồ Đàm và chúa Giê su) và cho rằng bậc đạo sư đó là đức Phật sau cùng. Những nhóm tín đồ này khuyên giới Phật tử nên từ bỏ đức Phật cổ xưa của mình và nên tôn thờ một đức Phật được gọi là mới xuất hiện này. Mặc dầu việc họ đã đặt đức Phật ngang hàng với địa vị Bậc đạo sư của họ cũng là một việc làm tốt đẹp, song chúng ta cảm thấy rằng những nỗ lực nhằm thu hút người Phật tử vào tôn giáo của họ bằng cách giải thích sai lệch chân lý quả thật là một việc làm vô cùng xúc phạm. Những kẻ cho rằng đức Phật mới đã ra đời rõ ràng là xuyên tạc những gì đức Phật đã dạy. Mặc dù đức Phật tiên đoán sự xuất hiện của đức Phật vị lai, song Ngài đã đề cập một số điều kiện cần phải được đáp ứng trước khi sự kiện này có thể xảy ra. Đó là bản chất tự nhiên của quả vị Phật mà đức Phật trong tương lai sẽ không thị hiện mãi cho đến khi nào thọ mạng của đức Phật hiện tại vẫn còn trên thế gian này. Ngài sẽ thị hiện chỉ khi Pháp Tứ Thánh Đế và Bát Chánh Đạo hoàn toàn bị lãng quên. Con người sống lúc bấy giờ sẽ được hướng dẫn đúng cách để hiểu được chân lý tương tự do chư Phật trong quá khứ thuyết giảng. Chúng ta hiện đang sống trong thọ mạng của đức Phật Cồ Đàm. Mặc dù giới hạnh của con người, với một số trường hợp ngoại lệ, đã bị suy đồi, đức Phật vị lai sẽ chỉ thị hiện ở một thời điểm không thể tính toán được khi mà loài người hoàn toàn bị lạc trên con đường đưa đến Niết-bàn và lúc mà nhân loại đang sẵn sàng chào đón Ngài. . |
| |||
| Bích-chi Phật Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bích-chi Phật (辟支佛), còn được gọi là Độc Giác Phật (獨覺佛), có gốc từ chữ pratyeka trong tiếng Phạn (hay paccekabuddha trong tiếng Pali). Đôi khi còn được biết với tên Duyên Giác Phật. Vị Phật này đạt giác ngộ nhờ tri kiến Mười hai nhân duyên, là người đạt được Phật quả do tự mình chứng ngộ. Người ta cho rằng Độc giác Phật không đạt được các năng lực như Nhất thiết trí (sarvajñatā) hay Mười lực (daśabala) của một vị Tam-miệu Tam-phật-đà (samyak-sam). Độc giác Phật được xem như bậc ở quả vị giữa A-la-hán và Phật. Có khi Độc giác Phật là danh hiệu chỉ người đạt giác ngộ trong thời không có vị Phật nào xuất hiện trên Trái Đất và giác ngộ nhờ đã đạt tri kiến mười hai nhân duyên trong các đời sống trước. Độc giác thừa là một trong ba cỗ xe để đạt Niết Bàn. . |
| |||
| Bồ Tát Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bồ Tát (菩薩) là lối viết tắt của Bồ-đề-tát-đóa (zh. 菩薩薩埵, sa. bodhisattva), cách phiên âm tiếng Phạn bodhisattva sang Hán-Việt, dịch ý là Giác hữu tình (zh. 覺有情), hoặc Đại sĩ (zh. 大士). Trong Phật giáo Đại thừa, Bồ Tát là một hành giả sau khi hành trì các Ba-la-mật-đa đã tựu Phật quả, nhưng nguyện không nhập Niết-bàn khi chúng sinh chưa giác ngộ. Yếu tố cơ bản của Bồ Tát là lòng Từ bi đi song song với Trí huệ. Chư Bồ Tát thường cứu độ chúng sinh và sẵn sàng thụ lãnh tất cả mọi đau khổ của chúng sinh cũng như hồi hướng phúc đức mình cho kẻ khác. Con đường tu học của Bồ tát bắt đầu bằng luyện tâm Bồ-đề và giữ Bồ Tát hạnh nguyện. Hành trình tu học của Bồ Tát được chia làm mười giai đoạn, là Thập địa. Thập địa (zh. 十地, sa. daśabhūmi) là mười quả vị tu chứng của các vị Bồ Tát. Có nhiều hệ thống khác nhau nhưng theo Bồ Tát địa (菩薩地, sa. bodhisattva-bhūmi) và Thập địa kinh (zh. 十地經, sa. daśabhūmika-sūtra) thì Thập địa gồm: Hoan hỉ địa (zh. 歡喜地, sa. pramuditā-bhūmi): Đắc quả này Bồ Tát rất hoan hỉ trên đường Giác ngộ (sa. bodhi). Bồ Tát đã phát Bồ-đề tâm và thệ nguyện cứu độ tất cả các chúng sinh thoát khỏi Luân hồi (sa. saṃsāra), không còn nghĩ tới mình, Bố thí (sa. dāna) không cầu phúc và chứng được tính Vô ngã (sa. anātman) của tất cả các Pháp (sa. dharma). Li cấu địa (zh. 離垢地, sa. vimalā bhūmi): Bồ Tát giữ Giới (sa. śīla) và thực hiện thiền định (sa. dhyāna, samādhi). Phát quang địa (zh. 發光地, sa. prabhākārī bhūmi): Bồ Tát chứng được quy luật Vô thường (sa. anitya), tu trì tâm Nhẫn nhục (sa. kṣānti) khi gặp chướng ngại trong việc cứu độ tất cả chúng sinh. Để đạt đến cấp này, Bồ Tát phải diệt trừ ba độc là tham, sân, si, thực hiện được bốn cấp định an chỉ (sa. dhyāna, Tứ thiền) của bốn xứ và chứng đạt năm thành phần trong Lục thông (sa. abhijñā). Diệm huệ địa (zh. 燄慧地, sa. arciṣmatī bhūmi): Bồ Tát đốt hết tất cả những quan niệm sai lầm, tu tập trí huệ, Bát-nhã (sa. prajñā) và 37 Bồ-đề phần (sa. bodhipākṣika-dharma). Cực nan thắng địa (zh. 極難勝地, sa. sudurjayā bhūmi): Bồ Tát nhập định, đạt trí huệ, nhờ đó liễu ngộ Tứ diệu đế và Chân như, tiêu diệt nghi ngờ và biết phân biệt. Bồ Tát tiếp tục hành trì 37 giác chi. Hiện tiền địa (zh. 現前地, sa. abhimukhī bhūmi): Bồ Tát liễu ngộ mọi pháp là vô ngã, ngộ lí Duyên khởi với mười hai nhân duyên và chuyển hoá trí phân biệt thành trí bát-nhã, nhận thức tính Không Trong xứ này, Bồ Tát đã đạt đến trí huệ Bồ-đề (sa. bodhi) và có thể nhập Niết-bàn thường trụ (sa. pratiṣṭhita-nirvāṇa). Vì lòng từ bi đối với chúng sinh, Bồ Tát lưu lại trong thế gian, nhưng không bị sinh tử ràng buộc, đó là Niết-bàn vô trụ (sa. apratiṣṭhita-nirvāṇa). Viễn hành địa (zh. 遠行地, sa. dūraṅgamā bhūmi): đạt tới cảnh giới này, Bồ Tát đầy đủ khả năng, có mọi phương tiện (sa. upāya) để giáo hoá chúng sinh. Đây là giai đoạn mà Bồ Tát tuỳ ý xuất hiện trong một dạng bất kì. Bất động địa (zh. 不動地, sa. acalā bhūmi): trong giai đoạn này, không còn bất kì cảnh ngộ gì làm Bồ Tát dao động. Công phu tu tập được thực hiện một cách vô ngại. Theo kinh Giải thâm mật thì những phiền não vi tế nhất cũng bị diệt trừ ở đây. Thiện huệ địa (zh. 善慧地, sa. sādhumatī bhūmi): Trí huệ Bồ Tát viên mãn, đạt Thập lực (sa. daśabala), Lục thông (sa. ṣaḍabhijñā), Tứ vô sở uý, Bát giải thoát. Biết rõ cơ sở mọi giáo pháp và giảng dạy giáo pháp. Pháp vân địa (zh. 法雲地, sa. dharmameghā bhūmi): Bồ Tát đạt Nhất thiết trí (sa. sarvajñatā), đại hạnh. Pháp thân của Bồ tát đã đạt tới mức viên mãn. Bồ Tát ngự trên toà sen với vô số Bồ Tát chung quanh trong cung trời Đâu-suất. Phật quả của Bồ Tát đã được chư Phật ấn chứng. Những Bồ Tát đạt cấp này là Di-lặc (sa. maitreya), Quán Thế Âm (sa. avalokiteśvara) và Văn-thù-sư-lợi (sa. mañjuśrī). Khác biệt giữa Đại thừa và Tiểu thừa Hình ảnh Bồ Tát của Đại thừa tương tự như A-la-hán của Tiểu thừa, trong đó A-la-hán tập trung vào sự giải thoát cho chính mình. Thật sự thì khái niệm Bồ tát đã được tìm thấy trong các kinh Tiểu thừa, nhất là khi nói về các tiền thân đức Phật Thích-ca (Bản sinh kinh). Trong Đại thừa, khi nói đến Bồ Tát, người ta xem đó là tiền thân của các vị Phật tương lai. Đại thừa chia làm hai hạng Bồ Tát: Bồ Tát đang sống trên Trái Đất và Bồ Tát siêu việt. -Các vị đang sống trên Trái Đất là những người đầy lòng từ bi, giúp đỡ chúng sinh, hướng về Phật quả. -Các vị Bồ Tát siêu việt là người đã đạt các hạnh Ba-la-mật và Phật quả – nhưng chưa nhập Niết-bàn. Đó là các vị đã đạt Nhất thiết trí, không còn ở trong Luân hồi, xuất hiện trong thế gian dưới nhiều dạng khác nhau để cứu độ chúng sinh. Đó là các vị được Phật tử tôn thờ và đảnh lễ, quan trọng nhất là các vị Bồ Tát Quán Thế Âm (zh. 觀世音), Văn-thù-sư-lợi (zh. 文殊師利), Địa Tạng (zh. 地藏), Đại Thế Chí (zh. 大勢至) và Phổ Hiền (zh. 普賢). Danh sách một số vị Bồ Tát Hư Không Tạng (zh. 虛空藏, sa. ākāśagarbha, ja. kokūzō) Quán Thế Âm (zh. 觀世音, sa. avalokiteśvara, ja. kanzeon, bo. spyan ras gzigs སྤྱན་རས་གཟིགས་) Địa Tạng (zh. 地藏, sa. kṣitigarbha, ja. jizō, sa yi snying po ས་ཡི་སྙིང་པོ་) Đại Thế Chí (zh. 大勢至, sa. mahasthāmaprāpta, ja. daiseishi) Di-lặc (zh. 彌勒, sa. maitreya, ja. miroku, bo. byams pa བྱམས་པ་) Văn-thù-sư-lợi (zh. 文殊師利, sa. mañjuśrī, ja. monju, bo. `jam pa`i dbyangs འཇམ་པའི་དབྱངས་) Phổ Hiền (zh. 普賢, sa. samantabhadra, ja. fugen, bo. kun tu bzang po ཀུན་ཏུ་བཟང་པོ་) Kim Cương Thủ (zh. 金剛手, sa. vajrapāṇi, ja. kongōshu, bo. phyag na rdo rje ཕྱག་ན་རྡོ་རྗེ་) |
| |||
| Ngài liền cất tiếng reo vang bày tỏ niềm cực lạc: “Giải thoát đạt vẹn toàn Ðây là đời cuối cùng, Không còn tái sanh nữa”. (MN 36.21) Ðêm ấy năm 528 trước CN, thái tử Siddhattha Gotama ba mươi lăm tuổi, con của quốc vương thành Kapilavatthu đã chứng quả Giác Ngộ (bodhi). Ngài đã trở thành đức Phật, một đấng Giác Ngộ, tỉnh thức, và như vậy là được giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử (Samsàra). Truyền thống Kinh Ðiển ghi sự kiện này cũng như sự kiện đản sanh của ngài, vào ngày rằm trăng tròn tháng Vesakha (khoảng tháng 4-5) và nêu địa điểm ấy gần Uruvelà (nay là Bodhi-gaya: Bồ-đề Ðạo tràng) dưới một gốc cây đặc biệt là assatha (tên khoa học: Ficus religiosa). Do vậy, ngày rằm tháng Vesakha là lễ hội quan trọng nhất của giới Phật tử và cây assatha là linh thọ bồ-đề. Ðây là sự kiện bắt nguồn cho một trường phái tư tưởng mới và tôn giáo mới, nên đạo quả Giác Ngộ của đức Phật đáng được phân tích về phương diện tâm lý. Do ảnh hưởng của Thiền phái Phật giáo (Zen), các tác giả hiện đại thường sai lầm miêu tả sự Giác Ngộ này như một “tia chớp” chợt loé bừng lên. Theo lời tường thuật của đức Phật Gotama trong kinh Trung bộ (MN 26), ta biết rằng sự kiện Giác Ngộ kéo dài suốt ba canh (khoảng 9 giờ), do vậy, đó là một tiến trình tuần tự. Ðiều này phù hợp với lời ngài tuyên bố khẳng định: “Giáo lý của ngài theo tiến trình tuần tự, không có sự thể nhập đột ngột tự phát của tri kiến (aññà); ví như bờ biển không đột ngột sâu xuống, mà cứ tuần tự xuôi dần” (Ud 5.5)* . Hơn nữa, tiến trình Giác Ngộ còn được chánh trí tuệ hướng dẫn như đã thể hiện rõ ràng từ những lời được ngài lập lại ba lần: “Ta hướng tâm đến túc mạng trí ... Ta hướng tâm đến thiên nhãn trí ... Ta hướng tâm đến lậu tận trí...”. Vì vậy ta có thể hình dung ra sự Giác Ngộ của đức Phật Gotama như là một trạng thái hạnh phúc tối cao kéo dài trong nhiều giờ khắc, với tâm trí cực kỳ minh mẫn, đã điều động mọi khả năng trí tuệ của ngài và tập trung chúng lại vào cùng một thời điểm, giống như một tấm kính nóng bỏng. Không có gì gọi là “xuất thần” trong sự Giác Ngộ (bodhi) này cả, vì đó không phải là một trạng thái ở ngoài tự thân hay mê mẩn tâm trí. Cách tầm cầu trạng thái này của đức Phật cũng không phải là sự mò mẫn mù quáng trong đêm tối. Ngài biết thật chính xác những đối tượng nào cần hướng tâm đến. Vì ngài đã từng quen thuộc với các tư tưởng về tái sanh của Áo Nghĩa Thư (Upanisad) từ thời ngài còn ở lại với đạo sư Uddaka, nên ngài có đủ khả năng hướng tâm thật sâu vào chủ đề này. Ðiều ấy cũng phù hợp với sự chứng đắc “Tứ Thánh Ðế” mà ngài đã biết rõ từ lý thuyết y học được phát triển cao và đã lưu hành ở Ấn Ðộ vào thế kỷ thứ 6 trước CN. Theo đó, trước tiên ta hỏi về bệnh, rồi nguyên do của bệnh, kế tiếp về khả năng tiêu diệt căn bệnh và cuối cùng là thuốc chữa bệnh. Vậy sự chứng đắc giác ngộ của đức Phật Gotama phần lớn bao gồm tri kiến phân giải lối tư duy đã có từ trước. Song sự Giác Ngộ ấy còn đi xa hơn, vì đó cũng là tri kiến tổng hợp, nghĩa là tri kiến mở rộng ra nhiều lãnh vực nhận thức mới. Tự thân chứng ngộ tri kiến phân tích khiến ngài thốt tiếng reo chiến thắng đồng thời xuất hiện trực quan sáng tạo hi hữu kỳ diệu đem lại cho ngài niềm cực lạc, trong ấy các tư tưởng cổ truyền cùng tuệ giác tinh anh phối hợp ở nội tâm ngài như những khối pha lê đúc kết thành một Giáo Pháp mới (Dhamma). Trong ánh hào quang chói lọi của sự Giác Ngộ (Bodhi), một hệ tư tưởng mới được tạo nên từ những yếu tố mới và cũ hòa đồng, giải thích thế giới “như thật” (yathàbhùtam), nêu rõ con đường từ khổ đau đến giải thoát, và cuối cùng đã vượt hẳn lên mọi tri kiến cũ để trở thành Chân Lý phổ quát bao trùm vạn vật. Chính yếu tố Giác Ngộ siêu việt này phô bày những điều vượt thế giới hữu hình khiến cho giáo lý đức Phật có năng lực thần kỳ điều động nhân loại, hướng dẫn con người đến cái thiện. Do vậy không có gì mâu thuẫn trong khi một mặt đức Phật tuyên bố giáo lý ngài như “một con đường xưa cũ đầy cây cỏ mọc tràn, nay ngài đã khám phá lại lần nữa, con đường ấy xuyên suốt qua rừng rậm đưa đến một kinh thành đã bị lãng quên từ lâu” (SN 12. 65)*, và mặt khác ngài nhấn mạnh rằng đó là điều mới lạ “chưa từng được nghe trước kia”. (Mv 1.6.23) Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam Ðức Phật Lịch Sử (The Historical Buddha) H.W. Schumann (1982) - Nguyên Tâm Trần Phương Lan dịch Việt (1997) |
| |||
| Ông Già Noel Chiêu Hoàng Năm Chương lên sáu, cha bỏ mẹ con Chương chạy theo dì Quỳnh. Một người ca sĩ trẻ đẹp nhưng chưa nổi tiếng. Mặc cho mẹ khóc, cha vẫn bỏ tất cả những hạnh phúc gia đình, những gì mình có để chạy theo cái bóng chập chờn trước mắt đang làm cha đảo điên. Giáng sinh năm ấy thật buồn. Đó là giáng sinh đầu tiên vắng cha. Không khí thật ảm đạm, thê lương. Mẹ cũng đặt trong phòng khách, bên cạnh lò sưởi một cây thông. Không quà, không bánh. Mẹ ngồi thừ người, thỉnh thỏang Chương thấy trên khuôn mặt mẹ những vết hằn của khổ đau và nước mắt. Thương mẹ quá. Chương đã ngồi cặm cụi viết cho Ông già Noel một bức thư thật dài đẫm nước mắt. Không giống như những năm trước, Chương chẳng xin bất cứ điều gì ngòai việc xin ông hãy mang cha về với mẹ con Chương, sống lại những ngày đầm ấm như xưa. Chương trân trọng đặt bức thư của mình cùng với một ly sữa và một đĩa bánh nhỏ bên cạnh cây thông gần lò sưởi. Chương ngồi bó gối đợi ông đến. Mười giờ..., mười một giờ..., rồi mười hai giờ... Mẹ dục giã bảo Chương đi ngủ, nhưng Chương vẫn cứ chờ. Chờ để nói với ông rằng, Chương nhớ Cha và muốn Cha chính là món quà giáng sinh ông ban trong năm ấy... Mãi đến gần hai giờ sáng Chương mới thiếp đi bên cạnh lò sưởi. Sáng ra, bánh, sữa còn nguyên. Lá thư vẫn nằm thản nhiên bên cạnh. Hiển nhiên, ông già Noel đã chưa từng ghé trong đêm qua. Không có một bút mực nào kể cho hết được nỗi thất vọng của một cậu bé sáu tuổi lúc ấy. Sự thất vọng tột cùng làm dấy lên một nỗi bi ai, thống thiết. Nó có cảm tưởng ông già Noel đã bỏ rơi mẹ con nó - như Cha đã làm năm xưa - bỏ rơi những người khốn khổ cần giúp đỡ, những người đã đặt trọn vẹn lòng tin về một một người.... Chương không có tuổi thơ. Ở lứa tuổi rất nhỏ nó đã nhận thức được rằng mình phải học cho giỏi, phải thành công để ngẩng mặt với đời, để thóat cảnh đánh đập vô cớ của một người dượng trẻ mà người mẹ vì đời sống sinh nhai của gia đình đã không còn có thì giờ để mắt đến Chương nữa. Ở lứa tuổi rất sớm, nó đã mong muốn một sự thóat ly. Tâm hồn nó càng ngày càng cằn cỗi, nứt nẻ vì thiếu giọt nước thương yêu tưới tẩm. Từ bao giờ chẳng biết, nó đã không còn có thể khóc nữa... * Nhiều năm sau, chàng trở thành một thương gia giầu có, thành công trên mọi mặt, nhưng tâm thức vẫn khô cằn, phổ thành một nhân dáng ít nói và lạnh lùng. Chàng chán ghét những cảnh họp mặt đông đảo, tránh nghe những lời nói yêu thương mà chàng cho rằng giả dối. Chàng đâm nghi ngờ tất cả, không còn tin trên đời này lại có tình nhân ái, lòng yêu thương. Đó chỉ là những "sản phẩm" được tạo dựng bởi những con buôn, nhân cơ hội để làm giầu, như hình ảnh ông già Noel ở tuổi thơ chàng. Tâm hồn chàng ngày càng cằn cỗi, nứt nẻ, nên không bao giờ có cơ hội nếm được vị ngọt của tình yêu và được yêu, Chàng chưa từng yêu ai, chưa từng mở rộng lòng mình để đón nhận những tình cảm mầu nhiệm ấy. Giáng sinh năm ấy. Trong một chuyến làm ăn xa. Người thương gia lang thang đi những bước chân vô định về một miền quê hẻo lánh. Ông không biết mình sinh ra đời để làm gì. Nhìn lại suốt quãng đời từ tuổi thơ tới giờ, ông hòan tòan không có được một niềm vui nhỏ bé nào. Tâm hồn thê lương, tan tác, thêm vào cảnh buồn bã của buổi chiều tàn làm ông ngơ ngác. Nhìn bầu trời với những đám mây đen kịt sẵn sàng đổ xuống một cơn mưa, ông cũng chưa muốn trở về khách sạn. Thay vì đi ngược trở về, ông lại bước những bước tần ngần về hướng trước mặt. Ông nghe những giọt mưa đã bắt đầu nhỏ xuống, nhanh dần, rồi sầm sập như có người rượt đuổi sau lưng. Xa xa, nhìn thấy một ngôi chùa nhỏ. Ông xỏai chân ghé tạm chú mưa bên hiên chùa. Tiếng mưa sầm sập đổ, ồn ào vẫn không át được tiếng tụng kinh trầm trầm trong chánh điện. Ông nghiêng tâm lắng nghe. Lạ lùng chưa. Chẳng hiểu vị sư nào tụng bằng một ngôn ngữ gì mà ông hòan tòan không hiểu. Có lẽ, đó là một bài chú nào đó. Âm thanh khi trầm, khi bổng đánh mạnh vào tâm hồn cằn cỗi ông những giọt nước từ bi. Ông bàng hòang, cảm động tới độ bật khóc. Tựa như người vừa trổi dậy từ một cơn mơ dài, ông có cảm tưởng tâm hồn mình chưa từng bao giờ khép kín, chưa từng bao giờ cằn cỗi thiếu bóng tình thương. Nó vẫn muôn đời mở rộng mà ông không biết. Duy chỉ một điều là ông đã chưa từng đưa tay nắm bắt những bàn tay khác đã từng đưa ra muốn nắm bắt với ông. Ông chưa từng biết mỉm cười, từ những nụ cười đã từng thoáng qua trong đời mà ông đã để vuột mất. Nay, âm thanh câu chú như những giọt nước cam lồ tưới tẩm lên trái tim ông mềm mại, thổn thức. Ông khóc say sưa, nước mắt hòa với nước mưa làm cho ông thấy môi mình mằn mặn. Càng khóc, ông càng cảm thấy nhẹ nhõm và một niềm vui vô bờ nhóm lên như những cánh hoa nhỏ. Cơn mưa dứt từ lâu. Ông cũng ngừng khóc lúc nào không biết. Tiếng tụng kinh cũng đã chấm dứt. Nhưng ông thấy mình vẫn đứng co ro bên mái hiên chùa. Giọng nói trầm trầm của vị sư già từ trong chánh điện vọng ra: - Sao không vào lễ Phật mà vẫn còn đứng mãi ở đấy? Như một mệnh lệnh bắt buộc phải tuân thủ. Ông lật đật khe khẽ đẩy cánh cửa bước vào. Vị sư già đang ngồi quay lưng về phía cửa chính, đối diện là một bức tranh Phật bằng vải đã ngả mầu. Ông phủ phục xuống chân vị sư già và lại bắt đầu khóc. Ông khóc vì cảm động, chẳng hiểu sự cảm động ấy từ đâu ra mà như nước vỡ bờ làm ông không thể cưỡng nổi. Bàn tay vị sư đặt lên đầu ông. Ấm áp đầy yêu thương: - Ta đã đợi con từ bao lâu nay sao mãi bây giờ mới đến? Ngẩng lên, nhìn khuôn mặt vị sư khắc khổ, nhưng lại thấp thóang có nhiều nét thân quen với đôi mắt đầy từ bi. Ông ấp úng: - Thày... thày... nói gì con không hiểu? Vị sư mỉm cưới: - Có những việc mà ta không cần phải hiểu. Chỉ cảm nhận là đủ rồi. Với giọng cảm động đầy nước mắt, ông xụp xuống: - Xin thày quy y cho con. Lể quy y xảy ra rất đơn giản, yên lặng. Nhưng trong ông cả một sự thay đổi lớn. Ông bàng hòang ngạc nhiên nhận ra một điều rất hiển nhiên. Ông chưa từng bao giờ bị bỏ rơi, cô đơn và thiếu thốn tình yêu, tâm hồn ông luôn hồn nhiên rộng mở, chỉ có điều ông không nhận ra được thế nào là Hạnh Phúc mà thôi. Giáng sinh năm ấy, nhà tỷ phú phát tâm phát chẩn cho những trẻ em nghèo khó, thiếu thốn và cô đơn. Ông xúng xính trong bộ đồ cải trang thành một ông già Noel với chòm râu trắng phau như tuyết. Ông ngồi trên một chiếc ghế màu đỏ thẫm, với khuôn mặt rạng rỡ của một người sẵn sàng cho đi tất cả. Ông mở rộng vòng tay đón chào tất cả các trẻ em đến với ông. Có những đứa bé quần áo lam lũ, lếch thếch, nhưng chúng đến bằng những tấm lòng chân thật, trẻ thơ. Chúng quàng lấy cổ ông, hôn ông và còn thầm thì với ông những ước mơ và những điều bí mật nhất của chúng. Ông cảm thấy ngạc nhiên và vui mừng hết sức. Tại sao Hạnh Phúc đến thật dễ dàng mà cả đời ông cứ phải loay hoay tìm kiếm? Tại sao ông chỉ cần đưa tay là ông được sự nắm bắt? Tại sao ông cho với một lòng nhiệt thành thì ông được trả lại bằng niềm vui bất tận tới vậy? Ôi. Ông đã phung phí biết bao nhiêu thời gian để chỉ nhận ra được một giá trị duy nhất trong đời: "Hãy thương yêu, tất sẽ được yêu thương" Tối hôm ấy. Trên con đường về nhà với đôi chân tê cứng, đau nhức vì không biết bao nhiêu trẻ con đã ngồi trên ấy. Nhưng niềm vui đã làm ông không còn cảm thấy mết mỏi và đau nhức nữa. Ông yên lặng, nghe lòng mình dâng trào lên một niềm an lạc vô bờ. Ông nhẹ nhàng khép đôi mắt, nghe tiếng nhạc giáng sinh rộn rã như tiếng vỡ của thủy tinh, rơi rớt trên thinh không phủ xuống trần thế như một đám bụi vàng... Dec. 15.2006 Chiêu Hoàng |






Linear Mode