| ||||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| |||
| Quan điểm triết học của I. Kant về sự nhận thức Triết gia Immanuel Kant sống cách đây trên 200 năm (1724-1804). Tác phẩm chính của ông là cuốn «Kritik der reinen Vernunft» - (Phê bình lý trí thuần tuý), được xuất bản năm 1787. Tác phẩm «Phê bình lý trí thuần tuý» này chứa đựng toàn bộ khuynh hướng triết học của Kant mà người ta thường gọi là «Transzendentalphilosophie» - (Triết học tiên nghiệm; cũng có người dịch là Triết học siêu nghiệm). Nhưng nay khuynh hướng triết học đó của Kant hầu như không còn gì nữa ngoài ý tưởng về triết học tiên nghiệm. Kant muốn đặt ra cho triết học một sứ mệnh mới và thiết lập tính chất khoa học của triết học một cách mới mẻ. Như thế, khác với khoa siêu hình học cũ, Kant đã không khởi đầu từ hữu thể, một thực tại hiện hữu độc lập với tính khả nhận thức của nó, nhưng sự tri thức được lãnh hội phải được minh chứng qua những điều kiện của sự nhận thức. Triết gia Kant gọi nền triết học của ông là khúc quanh Kô-per-níc(1), và qua nền triết học đó ông đã muốn trình bày một quan điểm hoàn toàn mới mẻ trong tư duy về vũ trụ. Do đó trong sự diễn giải các tác phẩm của ông, tất cả đều thùy thuộc vào nhãn quan này. Bởi vì, Kant đã trình bày các tác phẩm của ông theo đúng với điều mà ông cho là triết học tiên nghiệm: «Tôi gọi tất cả những nhận thức tiên nghiệm là những nhận thức không có một chút gì liên quan tới các đối tượng cả, nhưng chỉ có liên quan tới cách nhận thức của chúng ta về đối tượng, miễn là cách nhận thức đó khả dĩ một cách tiên nghiệm.» (B25) Qua đó cương lĩnh triết học của Kant đã được xác minh. Nơi Kant, vấn đề không còn là sự nhận thức các đối tượng, cho dù sự nhận thức này là một nhận thức thực tiễn (siêu hình học, thực nghiệm hay duy vật) hay một sự nhận thức thuần tuý duy tâm. Đối với Kant, sự nhận thức đối tượng là công việc của khoa học cá biệt. Thay vì đề cập tới chuyện đó, thì vấn đề được bàn đến ở đây là «cách nhận thức về đối tượng», hay như chính Kant nói: «điều kiện sự khả hữu (hợp lý)» của các đối tượng. Như vậy đối với Kant, điểm xuất phát không phải là đối tượng nhận thức đã được cấu thành theo một cách thức nhất định nào đó, nhưng là sự thẩm định phẩm chất giá trị (Geltungsqualifikation), tức những điều kiện làm cho sự tri thức trở thành sự tri thức có dẫn chứng (begründetes Wissen), nghĩa là sự tri thức hữu lý. Theo quan điểm Kant, triết học trở thành học thuyết về nguyên nhân cuối cùng của sự tri thức nói chung. Sự tri thức triết học là sự tri thức các nguyên lý, chứ không phải là sự tri thức các đối tượng. Trở lại sự thích đáng và vấn đề chân lý. Để tiến xa hơn nữa trong vấn đề này, Kant đã vượt ra khỏi luận lý học hình thức mà trong lãnh vực của nó bao gồm cả lý thuyết về sự phán đoán. Bởi vì luận lý hình thức chỉ có liên hệ với hình thức nhận thức và trừu xuất tất cả mọi nội dung ra. Nhưng khách quan tính được lý hội nhờ các phạm trù. Kant nêu lên mười hai cách thức phán đoán khả dĩ, tương đương với mười hai chức năng đồng nhất (phạm trù), tức những yếu tố cấu thành sự đồng nhất giữa ý niệm chủ thể và ý niệm thuộc từ. Mười hai phạm trù này là qui luật tối cao của luận cứ về khách quan tính. Dĩ nhiên, người ta không được quan niệm tác phẩm «Phê bình lý trí thuần tuý» như một hệ thống tuyệt đối về lý trí, hay như một «Organon»(2), nhưng như là sự «phê bình» bao quát mở rộng, và do đó các khoa học sau thời đại Kant, như các khoa học về tinh thần, đã dễ dàng được hòa nhập. Nhưng một điểm có tính cách quyết định vẫn luôn là nguyên lý hợp nhất, một nguyên lý không những làm nhiệm vụ nguyên lý hợp nhất mười hai phạm trù, nhưng cả cho sự mở rộng của các phạm trù đó nữa. Đó chính là nguyên lý mà trong §16 Kant đã ghi nhận như sự hợp nhất thuộc về phép tổng hợp tối cao của sự trực cảm và như thế là của khách quan tính: «‘Bản ngã tư duy’ cần phải đi kèm tất cả những ý tưởng và quan niệm của tôi.» Tất cả những cái thực hữu trong chiêm ngưỡng và tất cả những cái được suy tưởng tới trong những ý niệm đều phải tùy thuộc sự hợp nhất hợp lý tối cao này của tư duy. Dĩ nhiên, «bản ngã tư duy» ở đây không muốn nói là «bản ngã» cá biệt của chúng ta, nhưng người ta có thể gọi đó là «cái nội tại sâu kín hợp lý», tức cái nòng cốt đồng nhất của sự tự khẳng định của tư duy. Vậy, theo Kant, chân lý không phải là kết quả của sự đồng thuận giữa sự nhận thức và «thế giới bên ngoài», nhưng ở chỗ: tính xác thực của đối tượng thực tiễn trong quan niệm thuộc về không gian và thời gian và sự tự khẳng định của sự tư duy có chung cùng một nền tảng là các phạm trù. Và cái nền tảng chung là chức năng hợp nhất hợp lý của «bản ngã tư duy» như đã nói đến ở trên. Bởi vì, trong sự nhận thức, Kant chỉ chấp nhận sự tham chiếu các ý niệm với sự chiêm ngưỡng, chứ không như nơi Hegel là tham chiếu các ý niệm với nhau, nên lý thuyết của Kant là một nền triết học về lý trí tối hậu. Tuy nhiên, Kant lại cho rằng người ta không thể sử dụng phương pháp đó trong việc nhận thức về Thiên Chúa một cách triết học được. Theo Kant, người ta không thể có cơ sở hợp lý rõ ràng để nhận thức được Thiên Chúa là gì, chẳng hạn như là đệ nhất nguyên nhân. Kant cho rằng vấn đề về Thiên Chúa cũng tựa như là một đại dương bao la mà người ta không có thuyền bè để đi lại trên đó. Qua đó Kant muốn «nhường chỗ cho đức tin», tức theo quan điểm của Kant thì trong vấn đề liên quan đến Thiên Chúa chỉ có đức tin là câu trả lời duy nhất. Trong định nghĩa lý thuyết của lý trí thực hành trong việc nhận thức về Thiên Chúa thì thế giá chủ quan của Thiên Chúa là điểm tựa duy nhất, hầu cho toàn diện những hành động tìm hiểu của chúng ta được hợp lý bền vững. Bởi vì, Kant muốn hoà giải lý tính của trí năng con người với sự trình bày về Thiên Chúa và sự bất tử của linh hồn con người như những thực tại. Tuy nhiên, qua quan điểm của ông như thế về Thiên Chúa, Kant đã mặc nhiên tố cáo sự nghi ngờ của ông về sự hiện hữu của Thiên Chúa, mà có lẽ do áp lực của xã hội lúc bấy giơ, ông đã không dám công khai thừa nhận, nên ông phải nại đến tức tin. Trong khi đó, sự hiện hữu của Thiên Chúa còn có thể được chứng minh bởi những luận cứ hợp lý của trí năng, chứ không thuần tuý là công việc của đức tin mà thôi. Lm Nguyễn Hữu Thy |
| |||
| Huyền Sử Hồng Bàng Với Tâm Thức Lưỡng Hợp Đông Lan Tuổi thơ của chúng ta ai không ít nhất thuộc vài câu chuyện cổ xưa, chuyện lập nước Văn Lang , của thời đại Hồng Bàng 18 vua Hùng. Bọc Mẹ Trăm Con cũng đã ấm lòng bao mối tình yêu người yêu nước yêu quê, nhất là nơi khắp đời lưu lạc tha hương. Nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi rằng sao Bọc Mẹ lại bị chính các con Mẹ xé tọac đau thương? Tổ ấm của Chim Hồng, chim Lạc , nay còn đâu nữa? Việt Nam Quê Hương còn có gì để học hỏi, tìm về? Và gia tài tinh thần nào, chúng ta, những kẻ bất đắc chí phải lữ thứ tha hương, con có để trao gửi lại thế hệ mai sau? Quê Hương có phải chỉ là " Chùm khế ngọt" không? Bóng Mẹ có về trên cầu tre nhỏ lênh khênh như các khúc hát ru ngủ hồn người lạc bến mê nào? Quê hương tan nát, quê hương rã rời , đâu phải là khúc hát lời ru . Cho nên có một chiều trên đáy vực đau thương, tận cùng mê lộ, mở dòng sử mệnh dựng nước, dựng nhà, tìm về đạo nước, đạo nhà.Xem có con đường nào về với Quê Hương, Miền Quê Hương Tinh Thần không ai có thể đánh tráo, biển lận, bôi đen hay là nhuộm đỏ . Thử bàn về một ý nghĩa nào khác hơn là văn thơ nhẹ nhàng về các câu chuyện của nước Văn Lang với các Vua Hùng, một đề tài về Triết Việt. Nói đến Triết Việt hẳn trong chúng ta cũng có thể có câu hỏi: Chúng ta có một nền tư tưởng, văn hóa đặc sắc nào khả dĩ gọi được là Triết không? Thế giới có Triết Tây, Triết Ðông chứ chưa ai đề cập đến Triết Việt bao giờ. Vâng. Quả thực trước kia chúng ta chưa hề nghe cha ông, các bậc tiền bối nói về hai chữ Triết Việt. Thế nhưng, kể từ những năm 1960 trở đi, tại quê nhà, các sinh viên, trí thức, các vị quan tâm tới văn hóa, đã có một thời xôn xao, khi Cố Triết Gia, Giáo Sư Lương Kim Ðịnh, đã tuyên bố một cách hùng hồn rằng dân tộc Việt có một nền Triết đặc thù. Ngài đã tuyên dương nền Triết Việt ấy bằng một bộ sách Triết Lý 32 quyển, viết trong suốt một đời người, kể từ 1960 ở Việt Nam cho tới khi ngài từ trần 1997 tại hải ngọai. Trước hết chúng ta thử tìm hiểu xem căn cứ vào đâu mà Triết Gia Kim Ðịnh khám phá được kho tàng Triết Việt cho dân tộc chúng ta? Chúng tôi xin tóm tắt nền tảng xây dựng Bộ Sách Triết Việt đầu tiên ấy có thể căn cứ nơi BỐN phạm trù sau đây: 1- Từ 2- Tượng 3- Số 4- Chế. Từ có nghĩa là từ ngữ, lời văn, lời nói. Thí dụ như những truyện tích cổ xưa, các vần ca dao, các câu tục ngữ, những lời nói truyền miệng trong dân gian.Những TỪ này khi tìm hiểu cặn kẽ, sâu xa thì ta thấy tất cả dường như có mối liên hệ chặt chẽ, chuyên chở những ý nghĩa đơn sơ mà thâm thúy trong Tư Tưởng và Nhận Thức của tiền nhân Việt. Ngòai các từ ngữ ra, Tổ Tiên Việt còn để lại dấu ấn tư duy qua Hình TƯỢNG như hình ảnh, nét vẽ, dấu vết ghi lại cảm xúc, ý thức, cuộc sống, ước vọng tâm linh . qua các hoa văn trên các di vật đồ sứ, đồ gốm, đồ đồng cổ xưa. Họặc ngay trong các vật dụng thường ngày như cán dao, hòn sỏi v.v. mà khảo cổ đã tìm được. Ðặc biệt nhất trong lãnh vực TUỢNG này chúng ta phải kể đến nghệ thuật và ý nghĩa được khắc trên các Trống Ðồng của Việt Tộc cách nay 3000 năm. Chúng tôi sẽ xin trở lại với vấn đề này trong dịp khác về nền Minh Triết Trống Ðồng, họa đồ Tâm Linh của Dân tộc Việt. Nhưng không phải chỉ ở khía cạnh TỪ và TƯỢNG mà thôi, ở nơi chính các CON SỐ tầm thường nữa, Tổ tiên ta đã gửi gấm lại cho chúng ta các kinh nghiệm tâm linh về mối quan hệ nền tảng của các quy luật trong vũ trụ, tự nhiên, con người cũng như xã hội. Những con số tiêu biểu cho các chân lý sâu xa, nền tảng ấy như số 2, số 3, cặp số 2-3 mà chúng ta thường nghe là : Vài - Ba hay là con số 5 chẳng hạn, như trong câu ca dao: Ai về đường ấy hôm mai, Gửi Dăm ( Năm ) điều nhớ gửi vài điều thương. Hay là câu: " Cưới em quan tám tiền cheo, Quan NĂM tiền cưới lại đèo buồng cau. Còn CHẾ là là nề nếp sinh họat, thói tục, thể chế nơi đời sống gia đình, làng xóm, xã hội . CHẾ không bị đồng nhất khi có sự giao lưu với các nguồn văn hóa khác. Nó đặc biệt bền vững qua thời gian, qua bao thăng trầm của lịch sử. Như thế, CHẾ là thuần phong, là mỹ tục, là lễ nghĩa ràng buộc mỗi cá nhân trong xã hội lại với nhau một cách đặc thù, riêng biệt .Việt tộc đã có thể chế tuy có thể trộn nhưng không lẫn, hòa nhưng không tan qua hàng bao ngàn năm giữ nước. Tinh thần, đặc sắc này được thể hiện qua đời sống " Phép vua thua lệ Làng" ở khắp chốn làng quê, chúng ta nếu có dịp tìm hiểu thì thấy rất rõ. Như " Hoa Cau mọc ở vườn cau", Triết Việt xuất phát và tồn dưỡng nơi Làng Việt, mà cũng là Quê Việt. Như vậy, Bốn lãnh vực khác nhau này: Từ, Tượng, Số, Chế tuy có vẻ khác biệt, đa dạng về hình thức , về cách biểu lộ, diễn tả. nhưng lại có một sự Thống Nhất , chặt chẽ về nội dung, về những ý nghĩa làm nền tảng tư tưởng và sinh họat của dân tộc Việt từ bao ngàn năm xa xưa. Mối liên hệ sâu xa, thống nhất , quán triệt ấy của Tư tưởng và Văn hóa của tiền nhân Việt đã mang đầy đủ giá trị của một nền Triết học khả dĩ có thể thấm vào tận chiều kích sâu thẳm của tâm hồn, rung động được lòng người, cũng như lan tỏa khắp vũ trụ, nhân gian, để người Việt có thể sống với, làng nước Việt đuợc an lạc, thái hòa, thì không những Việt Tộc ta đã có Triết, mà còn là một nền Triết thượng thừa, siêu việt, xứng đáng là Minh Triết nữa. Vì, Minh Triết là gì, có phải rằng Minh Triết chỉ là Nghệ Thuật sắp xếp cuộc sống làm sao cho con người đạt được niềm Bình An và Chân Hạnh Phúc ? Ðường về với Minh Triết Việt còn nhiều khám phá. Chúng tôi chỉ xin phép bàn một vài góc cạnh của chân trời Huyền Sử Việt , với những truyện thời các vua Hùng, mà hai truyện Hồng Bàng và Bánh Dầy Bánh Chưng là tiêu biểu . TIÊN-RỒNG hay TRÒN -VUÔNG đều cùng xuất phát từ TÂM THỨC LƯỠNG HỢP, với đặc tính là THÁI HÒA. Thái Hòa là cái Hòa lớn lao, bao la, tràn khắp vũ trụ, nhân sinh.Hòa tất cả HAI đối cực, Hòa Hữu hạn với Vô biên, Hòa Tương đối cùng Tuyệt đối , Hòa Vật thể với Tâm linh, Hòa Ý thức với Tiềm thức, Hoà Lý với Tình, Hòa Ta với Người, Hòa Riêng với Chung.Tóm lại là HÒA bất cứ đối cực nào, trên lãnh vực gì. Cũng cần xin lưu ý, Minh Triết Hòa Hai Chiều Kích , Hợp Hai Lưỡng Cực Tiên - Rồng hay Tròn -Vuông của trình độ Tâm Thức Lưỡng Hợp của Tổ Tiên Việt Tộc được chính truyền từ thời các Vua Hùng dựng nước Văn Lang của chúng ta cách đây 5000 năm, cũng tương tự với minh triết Sắc - Không của Phật giáo được du nhập sau này. Ðó cũng chính là khởi thủy nền tảng Âm - Dương của Dịch Lý mà hơn 2000 năm sau, Khổng Tử đã ngưỡng vọng sâu xa và dùng ngôn ngữ và chữ viết của Hán tộc để chiếm lãnh chủ quyền Kinh Dịch của Việt Tộc - Cuốn Kinh nền tảng của Ngũ Kinh mà ai cũng ngộ nhận là của Trung Hoa- Chúng tôi sẽ xin phép trở lại với vấn đề này trong một dịp khác về " Cơ Cấu Việt Nho". Trở lại với hiện tại, thì với khám phá khoa học và tư duy của con người thời nay, thế giới chỉ là cuộc đại diễn củasự kết hợp : Một mà Hai , Hai mà Một: Trong đại vũ trụ, hai lực trường LY TÂM và HƯỚNG TÂM tạo nên sự thăng bằng sống động cho các thiên thể. Ðơn vị nhỏ nhất trong vũ trụ là nguyên tử thì có cả âm điện tử và dương điện tử. Ngày nay với thuyết tân vật lý, người ta còn tìm ra, cấu trúc nhỏ nhất có lúc là HẠT có lúc chỉ là LÀN SÓNG. Cũng như với thuyết tương đối của Einstein, khối lượng (mass) và năng lượng (energy) không còn biên cương. Chắc chúng ta còn nhớ phương trình E= mc2, E chỉ năng lượng, m là khối lượng, c là vận tốc ánh sáng . Có nghĩa là khi phóng một vật nhanh với bình phương tốc độ ánh sáng, thì vật chất trở thành năng lượng. Như thế, ta thấy moiiên giới khác biệt giữa hữu hình và vô hình, vật chất và phi vật chất .bị xóa mờ. Với các khám phá trên, thì lại càng là một minh chứng Tổ Tiên ta với Minh Triết có tính Lưỡng Hợp như Rồng - Tiên, Vuông - Tròn rất gần với các thuyết khoa học tân tiến nhất , có nhân bản tính tòan diện phù hợp với vũ trụ tính, tự nhiên tính, nên có khả năng làm thăng hoa cuộc sống trong sức khỏe, tri thức và họat động. Quê Hương ta đẹp như thế đó, bạn ơi ! Sao chưa về? Tìm lại Cha Rồng Mẹ Tiên. Và, cùng nhau dậy con cháu gói bánh Tròn Vuông dâng cúng Tổ Tiên, sống theo Tâm Ðạo Việt. |
| |||
| Mối sầu của Marx Và như ai cũng đã biết rồi. Cơn mơ nào cũng phải được tỉnh thức. Chủ nghĩa Marx đã thất bại như là một ý thức hệ chính trị. Nhưng Marx đã tiên tri đúng về thân phận của con người thế gian này. Tất cả chúng ta nay chỉ là những con vật kinh tế. Không còn ai tin vào các "thượng tầng cấu trúc" của thế giới tư bản nữa. Thần linh biến mất. Trời cao không còn. Thượng đế đã chết. Bạn biết sao không? Cái điều nghịch ngẫu nằm ở chỗ rằng dù cho con người thế gian hôm nay, trên bình diện chính trị, họ đều chống Marx; nhưng tất cả chúng ta, trên bình diện kinh tế, đều là những đứa con ngoan của Marx. Hãy nhìn lại. Lịch sử, theo Hegel, là sự "khai mở Tinh thần vào thời gian," cũng như "Vũ trụ là sự trương mở Tinh thần vào không gian". Thế giới, theo Hegel, là một hiện tượng tinh thần, mà trong đó, cá nhân tính chỉ là một hình thái tha hóa đang vươn mình tìm về lại chân lý vốn đang chờ đón ở cuối hành trình lịch sử. Cứu cánh tính của lịch sử và nhân loại là Tự do. "Lịch sử thế giới là một tiến trình trong ý thức Tự do", Hegel tuyên bố. Trên cơ bản cá nhân, tự do là sự giác ngộ về "bản lai diện mục." Trên cơ bản nhân loại, tự do là sự dung thông của ý chí cá thể với thực tế lịch sử. Đây là một con đường đầy gian truân, "một xa lộ đầy bi kịch", mà Tinh thần tạo hóa, như là một nhà đạo diễn đầy thủ đoạn - "the cunning of Reason" - nhưng với thiện ý, đầy đoạ nhân gian như là những trừng phạt của cha mẹ dành cho con cháu trong nhà nhằm cho chúng mở mắt ra để trưởng thành và lớn lao lên mà biết đến đường về. Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) Đối với Hegel thì bản chất tha hóa của con người là nguyên nhân cho địa ngục trần gian. Trong khi đó, Marx thì cho rằng sự tha hóa của con người là hệ quả từ bản chất cấu trúc kinh tế vật chất có sẵn của xã hội. Marx muốn xem thế gian và lịch sử là đối tượng để chinh phục và đổi mới. "Chính ta sẽ dẫm trên đống gạch vụn lịch sử để đứng lên như là một thượng đế mới," Marx viết. Con người và lịch sử như là một tiền đề và phản đề, soi gương lẫn nhau để mà biến thái lẫn nhau. Một nửa nhân loại của thế giới, trong suốt hầu hết thế kỷ 20, đã nghe lời Marx như thế, để chủ ý thay đổi lịch sử nhằm chuyển hóa con người. Con người kinh tế sẽ phải được phủ định khi nhu cầu thiết yếu của vật chất không còn là mối bận tâm. Những con chiên Marxists không còn phải chỉ lo về chính mình. Mà trái lại. Hắn muốn hy sinh đời sống riêng tư bằng ý chí tự phủ định cho cứu cánh lịch sử. Từ đó, lịch sử là chủ thể của ý chí mà cá nhân phải phục tòng. Con người từ giã tính tha hóa cá nhân bằng cách hòa mình vào ý chí tập thể trong cứu cánh tính tự do. Muốn được giải phóng, hắn phải trước hết tự trói chặt chính mình vào cơ năng tổ chức. Chỉ còn có con người lịch sử chứ không còn cá thể riêng tư. Và thảm họa phát xuất từ đó. Ở cuối thế kỷ 20, những con chiên Marxists mới thấy được rằng những cá nhân trong ý chí lịch sử duy vật, vừa đánh mất tự do của chính mình để rồi đồng lúc nô lệ hóa tha nhân. Khi Marxism không còn ai tin vào, nhân loại bỏ vất luôn khả năng lý tưởng. Khi cá nhân hết tin vào lịch sử, hắn cũng mất luôn niềm tin vào chính mình. Nhìn đâu, con người thời đại cũng chỉ còn thấy những thây ma thối rửa của thần linh, của tiên tri, của giáo điều, chủ nghĩa, của tổ chức, của đảng. Từ khi nhà tiên tri Karl Marx đã ra đi, thần đế cuối cùng trong thế gian này đã chết. Nhân gian từ nay đã hết mơ nói chuyện trên trời. *** Một ngày mùa đông cuối năm 2008 ở vùng bắc California này, trời âm u mây chiều, trong không khí giá lạnh, tôi thấy từng đoàn xe cộ, người ta lũ lượt đi mua sắm trong tiếng nhạc Noel quen thuộc. Tôi thấy một nhân gian tất bật lo lắng thuần về kinh tế. Trong hơi men tàn của cơn say lý tưởng từ thế kỷ trước, có ai đó trong tôi đang thấy rằng đây là một hoạt cảnh nhàm chán loay hoay của một khối nhân loại không còn tôn giáo, không còn lịch sử. Thượng đế đã chết. Hegel bị lãng quên. Marx nay rơi vào sọt rác. Không còn ai xứng đáng là kẻ tiên tri cho thời đại. Những đứa con rơi thuần duy vật của Marx nay đã mất hồn lịch sử. Mối sầu kim cổ lớn lao của nhân loại đi đâu mất rồi! Đại bàng vỗ cánh muôn năm trước (HC)Đâu biết trời kia rộng mấy khơi. Nguyễn Hữu Liêm |
| |||
| Niềm tin nền tảng của khoa học Người xưa chủ trương: Biết là tri thức chắc chắn và hiển nhiên về sự vật qua các nguyên nhân của nó Ý kiến là chấp nhận một mệnh đề nhưng có nghi ngại sợ sai . Tin là ý kiến được biện luận; tin ở giữa ý kiến và khoa học . Và như vậy đứng trên phương diện chủ quan, sự khác biệt giữa ý kiến, tin và biết, tùy thuộc mức độ hoàn thiện . Ngày nay đa số người vẫn quan niệm như vậy. Người ta coi tri thức khoa học là tri thức đúng , và tin là tri thức "không chắc chắn đúng". Bây giờ, vấn đề được đặt lại: cách quan niệm như vậy về khoa học và về tin, cách quan niệm như vậy về tri thức khoa học và tri thức do tin, có hoàn toàn đúng không? Niềm tin phủ nhận tri thức khoa học( Lập luận của thuyết hoài nghi ) Platon tin rằng, có những chân lý vĩnh cửu mà con người nhớ lại vì linh hồn đã chiêm ngắm chúng ở trên thế giới ý niệm . Aristote tin rằng ý niệm con người có về sự vật, là do lý trí trừu xuất ; và như vậy, chân lý là sự tương đồng tương hợp giữa lý trí và sự vật. Những người theo chủ thuyết hoài nghi không đồng ý kiến với Platon và Aristote, họ hoài ngh i. Không phải họ phủ nhận tri thức giác quan hoặc sự chắc chắn chủ quan, nhưng họ hoài nghi những tri thức mà người khác gọi là chân lý hoặc tri thức vĩnh cửu . Họ cho rằng không có sự chắc chắn khách quan tất cả những tri thức mà con người có : - bất cứ ai khẳng định điều gì, họ có thể khẳng định ngược lại; - nếu một người nại vào một tiêu chuẩn nào đó để chứng minh, họ phủ nhận tiêu chuẩn đó; - nếu người đó từ chối chứng minh và coi tiêu chuẩn để chứng minh là hiển nhiên, tiêu chuẩn đó chỉ là ý kiến. Như vậy, không có sự chắc chắn khách quan nơi mọi tri thức, và không có khoa học . Lập luận phản bác thuyết hoài nghi Nhằm bài bác chủ thuyết hoài nghi, người ta lập luận: vậy mệnh đề chủ trương "không có sự chắc chắn khách quan nơi tri thức" cũng không có sự chắc chắn khách quan. Những người chủ trương thuyết hoài nghi không phản đối điều này. Cũng nhằm bài bác chủ thuyết hoài nghi và những người thuộc phái Tân-Hàn-Lâm, thánh Augustin cố gắng chứng minh có sự chắc chắn khách quan bằng lập luận : "tôi sai lầm, vậy tôi hiện hữu". "Tôi sai lầm, vậy tôi hiện hữu". Như vậy, "tôi hiện hữu" là một chân lý khách quan . Chắc chắn những người theo chủ thuyết hoài nghi sẽ phủ nhận, không coi "tôi hiện hữu" là một tri thức có tính chắc chắn khách quan, vì họ đâu có chấp nhận "tôi sai lầm" là một tri thức có sự chắc chắn khách quan! Niềm tin của người chủ trương thuyết hoài nghi Bây giờ chúng ta xem một ví dụ minh giải lập trường của những người theo chủ thuyết hoài nghi. Những người chấp nhận khoa học cho rằng khi ta tung một hòn đá lên không trung, ta thấy hòn đá rơi xuống. Những người tin khoa học cho đó là chân lý chắc chắn và hiển nhiên, nhưng những người theo chủ thuyết hoài nghi không chắc chắn rằng điều đó sẽ xảy ra. Những người theo chủ thuyết hoài nghi không khẳng định rằng hòn đá sẽ không rơi, họ chỉ nói không chắc rằng hòn đá sẽ rơi. Ở cấp độ thứ nhất, những người chủ trương thuyết hoài nghi không tin chắc gì cả: hoặc không tin chắc có cái gì thường hằng bất biến, kể cả vật chất hay định luật vĩnh cửu nào chi phối chúng , hoặc không tin chắc con người có khả năng biết hữu thể cách chắc chắn . Có thể có thực tại vĩnh cửu khách quan nhưng không chắc chắn một cách khách quan rằng có; và giả như có thực tại vĩnh cửu đó thì con người cũng có thể biết, nhưng không chắc chắn rằng cái biết của mình về thực tại đó là đúng. Và như vậy, cách tốt nhất đối với nhưng người theo chủ thuyết hoài nghi là không khẳng định điều gì cách chắc chắn, hoặc không phán đoán gì . Ở cấp độ thứ hai : Những người theo chủ thuyết hoài nghi tin rằng con người không có tri thức với sự chắc chắn khách quan . Sở dĩ như vậy vì họ lập luận rằng những gì không chứng minh được thì không chắc chắn đúng cách khách quan. Với niềm tin như vậy, những người theo chủ thuyết hoài nghi phủ nhận khoa học . Và vì tin rằng con người không thể có tri thức một cách chắc chắn khách quan, nên những người theo chủ thuyết hoài nghi cũng đánh mất sự chắc chắn chủ quan khi tri thức. PHẠM THANH LIÊM . |
| |||
| Viễn ảnh Bauxite Việt Nam qua sự hình thành chủ nghĩa thực dân Trung Quốc tại Congo Những tuổi thơ trong mỏ quặng Em Adon Kalenga làm việc cho một hãng thu mua quặng. Công việc của em mỗi ngày là vác những bao quặng nặng gần 100 kí lô từ những hầm sâu, ẩm thấp đi rửa sạch và vác trở về cho chủ hãng thầu. Như em tả, cả thân thể em đều cảm thấy đau nhức và cả mười ngón tay trầy trụa sau một ngày dài rửa quặng. Em Adon Kalenga chỉ mới 13 tuổi. Trong lúc hầu hết thiếu niên cùng tuổi em trên thế giới đang đến trường thì em phải làm việc không ngưng nghỉ suốt bảy ngày mỗi tuần. Em không đủ tiền để đóng học phí, trung bình khoảng 6 Dollar một tháng. Em không có nhà ở. Đêm về, em ngủ nhiều nơi trên đường phố và cũng có khi tìm đến tạm trú trong các trại mồ côi. Cha của Adon chết khi em mới 9 tuổi. Mẹ em sau đó cũng bỏ nhà ra đi. Bà con thân thích không ai nhận nuôi dưỡng em khi chính họ còn không đủ sức nuôi con của họ. Em trở thành đứa bé mồ côi. Sau khi lang thang bụi đời một thời gian, các bạn của em gợi ý nên đi đào quặng bán lại cho các công ty thu mua Trung Quốc. Thế là em cùng các bạn đi đào quặng để kiếm sống. Trong năm đầu tiên em có lần suýt chết khi trời mưa lớn làm đất sụp thành bùn đè lên những người đang làm dưới hầm sâu. Bốn người bạn của em, Fabrice, Jean, Patient and Patrick đều bị bùn chôn sống trong tai nạn đó. Em may mắn sống sót nhưng thương tích đầy mình. Adon nói “Cuộc sống của em rất khó khăn. Em không hiểu tại sao.” Cuối tháng Tám 2008 trên báo Daily Mail ở Anh, nhà báo Peter Hitchens trong phóng sự “Làm thế nào Trung Quốc đã dựng nên một đế quốc nô lệ mới tại Phi Châu” (How China has created a new slave empire in Africa), đã mô tả đời sống của những người dân Congo mà tác giả gọi là “nghèo khổ, vô vọng, giận dữ” khi phải chui vào những hố sâu 25 mét trong những mỏ quặng bỏ hoang để tìm những mảnh quặng đồng còn sót lại, rửa sạch từ những vũng nước dơ và chất thành những kiện nặng tới hàng trăm kí-lô trên những chiếc xe đạp già nua để đem bán cho các thương gia Trung Quốc đang cần nguyên liệu. Nhiều trong số họ đã chết khi những hầm đất sụp hay bị thương nhưng không có thuốc men. Phần lớn đều có con nhỏ. Nhưng nếu họ may mắn sống sót và sau một ngày thu nhặt quặng thành công, họ kiếm được 3 Dollar để nuôi sống bản thân và gia đình trong những thôn xóm tồi tàn đầy bịnh tật. Và cũng theo phóng sự của Peter Hitchens, đời sống một người dân Congo hôm nay không khác gì của ông bà họ ở thế kỷ 18, nếu có khác chăng họ phải làm việc nhiều lần khổ hơn trong một điều kiện cũng tệ hại hơn nhiều. Và Việt Nam? Bên cạnh nhiều điểm khác nhau về mức độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, địa lý chính trị, hai dân tộc Congo và Việt Nam có chung nhiều điểm bất hạnh giống nhau. Cobalt Congo và Bauxite Việt Nam đều là bước đầu của chủ nghĩa bành trướng của thực dân đỏ Trung Quốc, và viễn ảnh đen tối bị lệ thuộc lâu dài vào Trung Quốc là điều có thực. Giống như Congo, dân tộc Việt Nam cũng trải qua một cuộc chiến tranh dài, với số người chết gần bằng nhau, và cả hai dân tộc đều nằm dưới sự cai trị của một giới lãnh đạo tự nguyện đặt mình dưới sự bảo hộ của Trung Quốc. Bởi vì, chỉ có cộng sản Trung Quốc mới làm ngơ trước các hành động bỏ tù, tra tấn, chặt tay, bịt miệng người dân, chỉ có cộng sản Trung Quốc mới im lặng khi giới cầm quyền sống xa hoa, phung phí trên máu xương, mồ hôi nước mắt của nhân dân, và chỉ núp dưới bóng của cộng sản Trung Quốc giới lãnh đạo có mới thể kéo dài quyền cai trị đất nước. Giống như Congo, Việt Nam cũng có tài nguyên phong phú, nhân lực dồi dào, lẽ ra hôm nay đã thành một con rồng, con phụng ở Á châu, nhưng không, Việt Nam vẫn còn là một nước nghèo về kinh tế và có một cơ chế chính trị còn lạc hậu hơn cả Congo. Dân tộc Việt Nam, sau 34 năm nguyền rủa, van xin, đánh thức lương tâm của giới lãnh đạo cộng sản bằng bao nhiêu bức tâm thư, bao nhiêu lời thỉnh nguyện. Tất cả chỉ là những giọt nước rơi vào biển cả, không tạo được âm vang, không gây nên chút sóng. Đảng Cộng sản đã chọn lựa cho họ một con đường riêng để tồn tại thì dân tộc Việt Nam cũng phải biết đứng lên để thay đổi vận mệnh của chính mình. Lịch sử nhân loại chứng minh, những kẻ độc tài thường không bước xuống theo nguyện vọng nhân dân, họ chỉ chết già trong quyền lực hay bị lật đổ. Trần Trung Đạo |
| |||
| Cá nhân chủ nghĩa Nguyễn Ước Theo Ðạo học, bản ngã là sư phô diễn trực tiếp Ðức, cái là năng lượng của Ðạo trong con người. Mục đích của Ðạo là thành tựu sự hiệp nhất mọi sự bên trong bản ngã bằng cách quay về với Ðạo, cội nguồn của bản thân. Ðiều đáng chú ý là quan điểm ấy đặt trọng tâm trên cá nhân chứ không trên xã hội. Khi nhìn vào Nho giáo, chúng ta thấy phương cách ứng xử đúng đắn là chấp nhận Lễ, những qui tắc giao tế được xã hội chấp nhận và lưu truyền qua rất nhiều thế hệ. Ngược lại, Ðạo học bắt đầu với từng cá nhân và chống lại mọi khuôn mẫu của xã hội. Ðối với cuộc đời, hai lối tiếp cận của Nho gia và Ðạo gia khác nhau như thế nên đưa tới cuộc tranh cãi lâu dài và sâu sắc vì mỗi bên dựa trên các cơ sở có vẻ đối lập nhau: tự nhiên hay nhân tạo, tự phát hay áp đặt, vô vi hay hữu vi… Trong Nam hoa kinh, Trang Tử quả quyết rằng không nên đưa bất cứ động cơ ngoại tại nào vào hành động, dù nó mang hình thức chấp nhận của xã hội hoặc do lòng trông mong được khen thưởng hay chê trách. Lời ấy không hàm ý rằng hành động của ta nhất thiết sẽ gây tai hại cho người khác hoặc không nên để ý tới người khác; nó chỉ có nghĩa rằng không nên lấy sự tác động lên người khác làm nguyên cớ ưu tiên cho quyết định hành động của ta. Mười chín thế kỷ sau, có lẽ thấm nhuần ý tưởng Trang Tử, Bồ Tùng Linh (1640-1715) trong Thi Thanh hoàng, truyện mở đầu 445 truyện làm thành Liêu trai chí dị, đã viết lời chỉ nam cho toàn bộ truyện: “Hữu tâm vi thiện, tuy thiện bất thưởng; Vô tâm vi ác, tuy ác bất phạt: Làm việc thiện mà có chủ ý thì không được thưởng; Làm việc ác mà không có chủ ý thì không bị phạt”. Mặc Tử – người cổ vũ tình yêu đại đồng và là đối tượng tư tưởng bị triết gia Mạnh Tử tự xem có bổn phận truy tận diệt tuyệt – kịch liệt chỉ trích Nho giáo là chấp nhận nấc thang tự nhiên bằng việc tỏ lòng tôn trọng và yêu quí thân nhân, bằng hữu của ta hơn những kẻ khác vốn cũng được ông cho là xứng đáng không kém với tình yêu đó. Ở cực điểm đối nghịch với Mặc Tử ta có Dương Chu, một nhà tư tưởng Ðạo học tiền phong. Họ Dương, như chúng ta đã đánh giá, thuộc thế hệ Ðạo gia thứ nhất và là nhà tư tưởng “thủ thân chủ nghĩa” của Ðạo học. Ông quả quyết rằng : Thật lầm lạc khi ta có hành động làm thương tổn bản thân cho dù hành động ấy mang lại lợi ích cho toàn thể thế gian Vì cuộc sống có hai mục đích: một là giữ cho bản thân đừng bị tổn hại và hai là sống hết sức lâu dài có thể được. Vấn đề gây tranh cãi ở đây là có phải từ việc áp dụng thuần tuý các nguyên tắc của Ðạo học mà họ Dương đã rút ra kết luận thuận lý và duy nhất ấy, và nếu thế thì nên hiểu nó như thế nào về mặt đạo đức học? Trang Tử giữ vững lập trường rằng không có gì tốt hoặc xấu một cách cố hữu; tốt hay xấu đều tuỳ vào tình huống cùng bản thân đương sự. Ðiều đó không có nghĩa rằng trong Ðạo học không có chỗ cho các qui tắc đạo đức tuyệt đối, đúng hơn, nó đưa tới quan điểm rằng ta phải chuẩn bị để sẵn sàng đi tới quá bên kia các qui tắc đạo đức. Trong Thiên Tề vật luận, Trang Tử viết rằng hễ hai người đã bất đồng, tranh luận không ai hơn được ai, thì hoàn toàn không có khả năng phân xử tuyệt đối công bằng, vì dù có nhờ người thứ ba phân xử thì kẻ trọng tài ấy cũng hoặc bị ràng buộc vào quan điểm không bên này thì bên nọ hoặc có quan điểm của riêng mình. “Nhờ kẻ đồng với ngươi quyết định điều đó, nó đã đồng với ngươi , quyết định sao được ? Nhờ kẻ đồng với ta quyết định điều đó, nó đã đồng với ta, quyết định sao được ? Nhờ kẻ khác với ta cùng ngươi quyết định điều đó, nó đã khác với ta cùng ngươi, quyết định sao được ? Nhờ kẻ đồng với ta cùng ngươi quyết định điều đó, nó đã đồng với ta cùng ngươi, quyết định sao được ? Vậy thì ta cùng ngươi, cùng người đều không thể biết được nhau, mà còn đợi kẻ kia sao?” (Nhượng Tống dịch, sách đã dẫn, t. 44). Nói cách khác, không thể mang tính tuyệt đối vào vấn đề lựa chọn đạo đức trong liên quan tới quá trình lập quyết định hoặc tiêu chuẩn thẩm định, vì không người nào không có quan điểm cá biệt về bất cứ sự việc nào. Tự phát và mộc mạc Tựa như nước không bao giờ chảy ngược, ta nên sống trong trạng thái thuận dòng, ít đề kháng nhất. Do đó, theo Ðạo học, sống lý tưởng là sống mộc mạc, không tham vọng và thoát ra ngoài mọi ham muốn. Tuy nhiên, trạng thái thoát khỏi mọi ham muốn đó có thể bị lâm nguy vì giáo dục: mức độ gia tăng tri thức có khuynh hướng đưa tới gia tăng lòng ham muốn và tham vọng. Bởi thế, trong Ðạo học, có triển khai một bộ phận tư tưởng chống lại sự thăng tiến tri thức và giáo dục. Mộc mạc tự nhiên của con người được gọi là phục: quay về, và đặc điểm của nó là vô vi: hành động tự phát; nó phản ánh sự hoà điệu một cách tự nhiên. Tính tự nhiên của vô vi sản sinh mộc mạc và liêm khiết – nó là hành động trong đó cái toàn bộ bản ngã như nhất của ta dấn sâu vào. Nó được lèo lái bởi tâm trí vô thức cả trước khi tâm trí ý thức kịp thời lý tính hoá nó. Và đó dường như là nỗ lực phấn đấu của người Ðạo học nhằm tìm lại sự liêm khiết vốn tuôn trào tự nhiên mà con người đã đánh mất cùng với tuổi thơ của mình. Tính mộc mạc và tự nhiên ấy đưa tới sự nhận biết về mọi vật đang sống và về địa vị cao cả của loài người trong thiên nhiên. Trạng thái ấy khá giống với Phật giáo; nó khích lệ lòng thấu cảm hết thảy chúng sinh. Bản thân Trang Tử mơ thấy mình là bướm; khi tỉnh giấc ông hoang mang đặt cho mình một câu hỏi thú vị: Làm sao tôi biết được tôi đang là người mơ thấy mình hoá bướm hoặc tôi đang là bướm mơ thấy mình hoá người? . |
| |||
| Tiềm năng con người qua nhãn quang khoa học - khai mở tiềm năng bằng tri thức Hồ Văn Khánh 1. Đặt vấn đề Một số khái niệm - "Tiềm năng" có nghĩa là năng lực tiềm tàng trong cuộc sống, những nguồn năng lượng tiềm ẩn trong cơ thể. Chúng có thể đã, đang và sẽ biểu hiện qua muôn hình vạn trạng của tạo vật trên mọi khía cạnh, sắc thái của vạn hữu tùy theo thiên chức nhân duyên hay sự điều tâm rèn luyện mãnh liệt. Tiềm năng nằm ở đặc tính vật chất và ở sức mạnh tinh thần. - Các loại tiềm năng và giới hạn của tiềm năng Tiềm năng cuộc sống quả là vô hạn bởi tính vô hạn của cuộc sống, sự vô tận của vũ trụ và vô cùng của tâm hồn. Nhưng chung quy, dù tinh thần có đi đâu, về đâu thì kết cục vẫn thu về một mối : Chân (lý), Tâm (tình), Chân (thực), Không (tức là tự do)... - Bản chất cuộc sống của con người Con người là thể hài hòa giữa bản năng (tự nhiên) và nhân tính (nhân loại), giữa tinh thần và vật thế, giữa cá nhân với môi trường (tự nhiên và xã hội). Cho nên cuộc sống chẳng qua là sự trao đổi của những luồng tâm tư (Vivekananda) hay cuộc sống đích thực của con người là văn hóa tinh thần (F. Hegel). - Nhu cầu phát triển tiềm năng Cuộc sống là một sự vận động không ngừng mà bản thân con người luôn có khát vọng tự thân tìm ra chân lý trường tồn, cội rễ của mọi hạnh phúc. Trên con đường tiệm cận tính đích thực, người ta biểu lộ khả năng trong mọi khía cạnh, phát triển nhận thức không ngừng và do đó tiềm năng của chúng ta luôn luôn được đơm hoa kết trái trong cuộc sống. Có điều làm sao cho chúng được chan hòa, giao cảm một cách vô tư, hồn nhiên rộng rãi và hết khả năng. Ngày nay, trong thời đại biến chuyển nhanh chóng của khoa học công nghệ, kinh tế tri thức và văn hóa thông tin, việc khai phóng tiềm năng có vai trò quyết định đến sự phát triển của bản thân và xã hội, bảo đảm khả năng bền vững cho cuộc sống rộng mở. - Vị trí, vai trò của con người trong cuộc sống Cũng như mọi tạo vật khác, con người có đầy đủ những bản năng tồn tại bình hòa với những nhu cầu tối thiểu. Nhưng hơn hẳn muôn tạo vật khác, con người có ý chí, tư tưởng và nhận thức, có khát vọng cao cả và có tình yêu rộng mở. Chính "tư tưởng tạo nên sự cao cả của con người" và tâm tình yêu thương không ngừng tăng tiến đã "biến những điều không thể thành có thể". Cho nên, việc khơi dậy tiềm năng con người thực chất là làm thức dậy khả năng tự nhiên bình hòa vốn có và phát triển tâm tình hướng tới những khung trời mỹ cảm cao sáng. 2. Tiềm Năng - Suối nguồn của các thành tựu khoa học Phải thừa nhận một thực tiễn rằng mọi thành tựu khoa học đều được kết trái, chín mọng từ những bông hoa tiềm năng nở rộ và tỏa hương. Mọi dấu ấn nhận thức, hiểu biết và thành công trong cuộc sống đều chan chứa năng lượng tâm thức được dồn nén (hoặc khai phóng) của con người. Trước vẻ đẹp sững sờ của thiên nhiên, trước những đặc tính kỳ diệu của tạo vật và những khát vọng vươn lên của tinh thần, con người điều tâm, tỏ lòng và quên mình hướng tới những bản sắc đó để giao duyên cảm ứng và hội thông, từ đó mà khơi dòng cho những nghệ thuật hay giai điệu bổng trầm. "Tay người như có phép tiên, Trên nền tre lá dệt nghìn bài thơ" (Nguyễn Đình Thi). Như trên đã trình bày, khoa học là hệ thống những hiểu biết về quy luật phát triển của đời sống... mang những giá trị tinh thần. Cho nên trước hết tiềm năng của cuộc sống chính nằm ngay trong tinh thần, trong những quy luật tâm - sinh lý của thiên nhiên vũ trụ. Cho nên để khai phóng tiềm năng thì hệ thống hiểu biết phải đồng điệu với những thổn thức của tự nhiên, duyên tình của đất trời và tinh thần của tạo hóa. 2.1. Những trước tác cổ xưa kết tinh sự gắn kết: Thiên địa nhân - Tam tài vị nhất thể? Ý nghĩa và giá trị của "Hệ thống hiểu biết những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy " Ngày xưa, nhà bác học cổ đại lừng danh Aristotle với rất nhiều tác phẩm nổi tiếng cho tới tận ngày nay: Phép siêu hình, Luân lý học, Vật lý học, Bàn về công cụ, Bàn về linh hồn... Thuở còn trẻ ông không tin và phản kháng, cự tuyệt khi người thầy vĩ đại Plato giảng giải về thế giới tâm linh, thế giới tinh thần : "Đối với ta Plato thật là đáng quý nhưng chân lý còn đáng quý hơn". Ấy thế mà sau bao năm hướng trí tuệ của mình ra ngoài, vào những hiện tượng, sự việc đang diễn ra trong cảm giác, trong quá trình soi rọi tới những nơi sâu kín cơ thể sinh vật và vô sinh, những huyền bí của vũ trụ, với bao kinh nghiệm từng trải ông lại trực giác "tất phải có một cái gì vĩnh hằng và bất động đã làm cho trời và vạn vật trên trái đất chuyển động". ông tin tưởng mãnh liệt vào "nguồn động lực ban đầu" nơi trú ngụ của trí tuệ. Ông là người luôn luôn đề cao đạo đức, luân lý trong đời sống và hành vi. . |
| |||
| Vấn đề thời gian dưới cái nhìn của Phật giáo và Khoa học Minh Chi --- o0o --- Trong cuộc đối thoại về mối tương quan và điểm gặp gỡ giữa khoa học với Phật giáo dưới đây, giáo sư Trịnh Xuân Thuận, một nhà vật lý thiên văn học nổi tiếng người Việt quốc tịch Mỹ đã nói không úp mở rằng, các vấn đề về thời gian và phương hướng vận động của nó còn lâu mới được giải quyết và còn bị bao bọc trong một màn sương mù dày đặc. Vì chính giáo sư Thuận đã thừa nhận như vậy, cho nên trong bài giới thiệu này, tôi chỉ tập trung vào một số vấn đề mà các nhà vật lý học hiện đại nói chung đã đồng thuận, tránh những vấn đề còn đang rối rắm, và hạn chế bài giới thiệu chủ yếu vào quan điểm của Phật giáo đối với thời gian, do thầy Matthieu Ricard trình bày. Đó cũng là phần trong bài có ích nhiều nhất đối với các Phật tử Việt Nam chúng ta. Ngành vật lý hiện đại đã chuyển từ khái niệm thời gian tuyệt đối và phổ quát của Newton sang khái niệm thời gian tương đối và mềm dẻo, uyển chuyển của Einstein, thời gian có thể biến đổi chậm hay nhanh theo sự di chuyển của ngưòi quan sát, và cường độ của trọng trường nơi người quan sát đang đứng. Ngoài ra, còn có sự phân biệt mà mọi người chúng ta đều cảm nhận giữa thời gian vật lý và thời gian tâm lý. Dựa vào lý gì mà đạo Phật bác bỏ thời gian tuyệt đối, và dùng thời gian tâm lý để khích lệ cuộc sống tâm linh. Phải chăng thời gian chỉ là một cấu trúc của tâm thức? Đó là chủ đề trao đổi giữa Giáo sư Trịnh Xuân Thuận, một nhà bác học vật lý người Mỹ gốc Việt, hiện là giáo sư Trường Đại học Virginia–Mỹ và Tiến sĩ sinh học, thầy Matthieu Ricard, hiện là tu sĩ tại một tu viện Nepal. GS. Trịnh Xuân Thuận (GS Thuận): Thời gian là một khái niệm không phải để nắm bắt, như Thánh Augustin đã từng nói ngay từ đầu thế kỷ IV sau Tây lịch: “Thời gian là gì? Khi không ai hỏi tôi, thì tôi biết. Nhưng khi người ta hỏi tôi và tôi muốn giải thích thì tôi không còn biết nữa”. Nhà vật lý học thường xuyên sử dụng khái niệm thời gian. Từ thế kỷ XVI, Galileo đã dùng thời gian như một yếu tố vật lý cơ bản để sắp xếp và gắn liền bằng toán học những kết quả đo đạc của ông đối với các vật thể vận động. Nhưng chỉ đến thế kỷ XVII, Newton với các quy luật cơ học của ông mới đưa ra được một định nghĩa minh bạch về thời gian. Ông mô tả sự vận động của các vật thể trong không gian bằng cách xác định vị trí và tốc độ của chúng ở các thời điểm nối tiếp nhau. Thòi gian của Newton là độc nhất, tuyệt đối và có giá trị phổ quát khắp mọi nơi. Thời gian và không gian tách biệt hẳn nhau. Thời gian trôi qua mà không có sự tác động qua lại với không gian. Năm 1905, Einstein công bố thuyết Tương đối hạn chế (thuyết Tương đối hẹp) của ông và bác bỏ khái niệm một thời gian tuyệt đối. Với Einstein, thời gian mất tính chất cứng nhắc và phổ quát. Nó thay đổi tùy theo sự di chuyển của người quan sát. Con ngưòi càng di chuyển nhanh thì thời gian đối với nó càng chậm lại. Một người ngồi trên một con tàu vũ trụ bay với tốc độ 87% tốc độ ánh sáng, thì thời gian đối với người đó có tốc độ chậm đi một nửa. Anh ta già chậm gấp hai lần người anh em sinh đôi đang ở dưới Trái đất. Sự khác biệt đó rất là thực tế. Người anh em ở dưới Trái đất sẽ có nhiều nếp nhăn và tóc bạc hơn. Trái tim của anh ta sẽ đập nhiều nhịp hơn, anh ta ăn nhiều bữa cơm hơn và uống nhiều hơn ... Theo thuyết Tương đối hạn chế của Einstein, thì tốc độ càng tăng, thời gian càng chậm lại. Tình hình không thấy rõ, với sự thay đổi bình thường của tốc độ di chuyển trong cuộc sống thường ngày, nhưng lại thấy rất rõ với những tốc độ gần với tốc độ ánh sáng là 300.000 km/giây. Với tốc độ đạt 99% tốc độ ánh sáng thì thời gian chậm tới 7 lần! Einstein còn cho biết, thời gian và không gian tác động hỗ tương lẫn nhau. Khi thời gian chậm lại thì không gian cũng thu hẹp lại. Đối với người ngồi trên con tàu vũ trụ, bay với tốc độ bằng 87% tốc độ ánh sáng, thì không những anh ta chậm già đi gấp hai lần, mà con tàu vũ trụ cũng bị thu nhỏ gấp hai lần, đối với người anh em sinh đôi, đang sống dưới Trái đất. Thời gian chậm lại không phải chỉ do tốc độ mà còn do lực hấp dẫn. Khi con tàu vũ trụ tiến lại gần rnột lỗ đen, ở đó có lực hấp dẫn rất lớn, thì đồng hồ ở trên tay nhà phi hành vũ trụ chạy chậm lại!. Thời gian cũng mất giá trị phổ quát. Thời gian khác biệt nhau đối với mỗi người. Hiện tại đối với tôi có thể là quá khứ đối với một người thứ hai và là tương lai đối với một người thứ ba. Đối với Einstein, thời gian trôi đi chỉ là ảo ảnh. Năm 1955, khi người bạn thân của Einstein là Michele Besso qua đời, ông phát biểu cảm tưởng của mình như là để trút hết nỗi đau buồn: “Đối với chúng tôi là các nhà vật lý học, mọi khác biệt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là ảo ảnh dai dẳng ngoan cố . . .”. Đối với nhà vật lý học hiện đại, thời gian như ngừng lại không trôi, nó dừng lại im lìm như một con đường thẳng vô tận ở cả hai chiều. Thầy Matthieu Ricard (thầy Matthieu): Đối với Đạo Phật, thời gian vật lý và tuyệt đối chỉ là một khái niệm không tồn tại đích thực. Không thể nắm bắt được thời điểm hiện tại vì nó không đủ bề dày để có điểm bắt đầu và điểm kết thúc. Thời gian thuộc về lĩnh vực chân lý tương đối của thế giới hiện tượng và chỉ là một khái niệm. gắn liền với kinh nghiệm của chúng ta, với những hệ chuẩn mực đặc biệt. Thời gian chỉ là một phương thức nắm bắt các hiện tượng, và không thể tồn tại độc lập tách rời khỏi các hiện tượng. GS Thuận: Có thể phân biệt thời gian tâm lý (thòì gian chủ quan) với thời gian vật lý (thời gian khách quan), không tùy thuộc vào tâm thức chúng ta, là thời gian của đồng hồ. Người ta đo đạc nó dựa vào một sự vận động đều đặn như sự vận động của Trái đất trên trục của nó. Nếu không có chuẩn mực để đo đạc, thì không thể có thời gian.Trước Big Bang(l), trước khi có vũ trụ sanh khởi, đặt vấn đề thời gian là vô nghĩa, bởi lẽ không có hiện tượng nào có thể dùng làm chuẩn mực để đo đạc. Thuyết Big Bang cho rằng, thời gian và không gian cùng sinh khởi với vũ trụ. Ngay Thánh Agustin, từ thế kỷ IV trước Tây lịch đã có tư duy tiến bộ cho rằng thế giới và thời gian cùng sinh khởi một lần. Thế giới được tạo ra không phải trong thời gian mà là với thời gian. Phải thừa nhận đó là một khái niệm tiến bộ về thời gian, khá gần gũi với tư tưởng của thiên văn học hiện đại. Trái lại, thời gian mà chúng ta cảm nhận từ trong tâm thức chúng ta là thời gian chủ quan, thời gian tâm lý, nó diễn ra nhanh hay chậm tùy theo tâm trạng của mỗi người. Những ngày giờ buồn chán hay sợ hãi hình như kéo dài hàng thế kỷ, còn những năm tháng hạnh phúc hình như trôi qua trong nháy mắt. Đối với người già, thời gian càng trôi qua nhanh chóng. Tuổi càng lớn, thời gian tâm lý càng rút ngắn. Các triết gia ở các thời đại khác nhau đều cảm nhận rõ sự khác biệt đó giữa cái gọi là thời gian khách quan, thời gian của đồng hồ với thời gian tâm lý thời gian mà tâm con người cảm nhận tùy theo trạng thái tâm lý của con người. Thầy Matthieu: Kant cũng nói là các khái niệm thời gian và không gian đều tùy thuộc vào mối liên hệ giữa chúng ta và thế giới tự nhiên, chứ không phải là thuộc tính riêng có của tự nhiên. Ông nói: “Thời gian chỉ là một điều kiện chủ quan của nhận thức trực cảm của chúng ta, nó không tồn tại ở ngoài chủ thể”. Các triết gia Phật giáo cũng như vậy, họ xem thời gian không phải là một thực tại cứu kính, không thể tồn tại tách biệt hiện tượng và người quan sát. Khi nói điểm bắt đầu của thời gian tức mặc thiên thừa nhận tính chất ảo ảnh của thời gian rồi. Vì có thể hỏi: “Trước điểm bắt đầu đó có gì?”. Câu hỏi vô nghĩa đó cho thấy chúng ta đối diện thời gian không phải như một thực tại mà như một cấu trúc của tâm thức. GS Thuận: Ngoài tâm trạng như trí nhớ, sự chú ý hiện tại, sự chờ đợi tương lai, ngoài những tâm trạng đó thì không có thời gian. Hơn nữa, thời gian tâm lý rất khác với thời gian vật lý, thời gian của đồng hồ. Tại sao lại có sự khác biệt giữa hai loại thời gian đó? Thầy Matthieu : Sự khác biệt đó chỉ là một sự bí mật nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta tách biệt thế giới. Tôi muốn hỏi phải chăng thòi gian vật lý chỉ là do thời gian tâm lý trừu tượng hóa mà thành. Còn thời gian tâm lýí thì nảy sinh từ sự khác biệt giữa nhũng điều đã được làm và nhũng điều chờ đợi sẽ xảy ra. Nhưng các nhà vật lý lại muốn giải thích cuộc sống của chúng ta bằng vật lý và biến khái niệm thời gian vốn là ảo ảnh thành một cái gì thực tại. GS Thuận: Có thể chăng là do hoạt động của bộ não khiến chúng ta cảm nhận có thời gian trôi qua. Các dữ kiện của thế giới khách quan được các cảm quan chuyển tới bộ não rồi được bộ não xây dựng sắp xếp thành một hình ảnh tâm thức. Hoạt động tạo hình ảnh đó của bộ não là kết quả của sự hoạt động đồng thời của các vùng khác nhau trong bộ não, mỗi vùng làm một chức năng riêng biệt. Theo nhà thần kinh học Francisco Varela, chính tính phức tạp của nhiệm vụ kết hợp các vùng tức các bộ phận cấu thành khác nhau của bộ não khiến chúng ta có cảm giác thời gian. Thời gian vật lý cũng như thời gian tâm lý chỉ có một phương vận động là bay về phía trước như mũi tên sau khi tách rời khỏi cây cung cũng lao thẳng về phía trưóc. Do vậy người ta gọi thời gian là mũi tên thời gian. Chính tính không thể chuyển hướng của thời gian khiến chúng ta sợ chết. Mọi người đều biết mình đi từ cái nôi đến cái mồ. Thầy Matthieu: Phật giáo sử dụng thời gian tâm lý để làm chủ tâm trạng sợ chết và khích lệ sự siêng năng tu tập. Phật giáo không né tránh, trái lại khuyến khích chúng ta quán tưởng cái chết như một sự kiện bình thường khiến cho khi giờ chết đến chúng ta tiếp thu cái chết với thái độ bình thản. Ở Tây Tạng, các tu sĩ thường lật úp chén nước sau khi uống xong mỗi buổi tối trước khi đi ngủ để phòng sáng mai có thể ngủ luôn không dậy nữa! Lý do là ở Tây Tạng khi có một người chết thì những người chứng kiến đều lật úp chén nước. Mọi người hãy cảm thấy vui vì sau khi thở ra–lại có thể thở vào được. Như vậy, mọi người đều được giáo dục về khả năng cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào. Thở ra rồi còn thở vào được, chỉ điều đó thôi cũng làm cho chúng ta sung sướng rồi. Ngài Long Thọ viết trong “Bức thư gửi cho một người bạn”: “Nếu cuộc sống này phải chịu hàng nghìn phiền não, khổ đau. Nó còn bấp bênh hơn bọt nưóc trên sông, Thì kỳ diệu thay! Sau một đêm ngủ lại được thức dậy thở vào thở ra thoải mái”. Đức Phật trong tập kinh Udanavarga: “Tất cả mọi cái chúng ta tích lũy cuối cùng sẽ phân tán Mọi cái chúng ta xây dựng cuối cùng cũng đổ sập, Cái tập họp rồi cũng chia ly, Mọi cái sống cuối cùng cũng chết” Thời gian trôi không trở lại sẽ kích thích hạnh tinh tấn trong mỗi người. Padmasambava (Liên Hoa Sinh), vị đạo sư đã du nhập đạo Phật vào Tây Tạng, viết: “Cũng như dòng suối chảy ra biển, Như mặt trời và mặt trăng di chuyển tới các rặng núi nơi mặt trời lặn, Như ngày và đêm, giờ phút đang thoát xa, Đời sống con người cũng trôi qua không thể khác” Đức Phật dùng hình ảnh một lực sĩ lấy tay bắt 4 mũi tên do các xạ thủ bắn đi từ các hướng khác nhau nhưng Phật nói: “Còn nhanh hơn là: thời gian trôi qua và cái chết đến”. Vì vậy, đối với Phật tử, thời gian là cái quý nhất không được để lãng phí do thái độ bàng quan của nhũng người quên mất cái chết đang chờ đợi họ. (Theo “Vũ trụ trong lòng bàn tay” chương 9, bản tiếng Pháp, Matthieu Ricard - Trịnh Xuân Thuận) (1) Big Bang: Vụ nổ đầu tiên sinh ra vũ trụ này. |






Linear Mode