| ||||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| |||
| Giáo lý Phật giáo về sự Tái Sanh Ðại Ðức Narada Maha Thera Bác sĩ Nguyễn Trạch Thiện dịch PL 2546 - TL 2002 -ooOoo- Từ đây ta sẽ đi về đâu ?... nào biết! Chừng nào đi ?... nào biết! Ta chỉ biết một điều và biết chắc như vậy, là ngày nào đây nhất định ta phải ra đi. 1. Quan niệm về tái-sanh Giáo lý về sự Tái-Sanh chẳng phải là một lý thuyết, người Phật-tử xem nó như là một sự thật, không chối cãi được. Nó là căn-bản của Phật-Giáo. Hạnh nguyện của chư vị Bồ-Tát và chủ trương tự do tiến hóa đến nơi tận thiện, tận mỹ đều căn cứ trên giáo lý Tái-Sanh này. Sách vở có ghi chép rằng Chúa Jésus, nhiều bậc hiền triết như Pythagore, Platon, nhiều thi-sĩ như Shelly, Tennyton, Wordsworth và một số người Âu-Châu, Á-Châu đều thừa nhận và tin tưởng có sự Luân-Hồi, hoặc có linh-hồn đi đầu thai. Giáo lý về sự Tái-Sanh của Phật-Giáo khác hẳn với quan niệm Luân-Hồi và đầu thai của linh-hồn bởi Phật-Giáo không nhìn nhận có một linh-hồn trường tồn bất diệt để chuyển sanh từ kiếp này qua kiếp khác, dầu là linh-hồn do Thượng Ðế sanh ra, hay từ trong cái Ðại-Hồn (Paramàtama) tách ra. Chỉ có nghiệp quả mới cấu tạo được sự Tái-Sanh. Do nghiệp quá khứ mới có sự Tái-Sanh hiện tại. Do nghiệp hiện tại hiệp với nghiệp quá khứ mới có sự Tái-Sanh vị lai. Hiện tại là con đẻ của quá khứ và trở thành thân sinh của vị lai. 2. Ðâu là nguồn gốc tường tận của sự sống? Ðức Phật đã nói rằng: Luân-Hồi ở bên ngoài ranh giới cuối cùng của sự hiểu biết. Chúng ta không thể biết được cái khởi thủy của chúng sanh, vì vô-minh và phiền-não của lòng ham muốn làm lôi kéo luân chuyển triền miên. Triều lưu của sự sống cuộn chảy mãi mãi, do các dòng nước nhơ đục của vô-minh và ái-dục bồi dưỡng không ngừng nghỉ. Khi nào hai nhân này bị cắt đứt, thì triều lưu của sự sống mới ngưng chảy, sự tái sanh sẽ chấm dứt, y như trường hợp của Chư Phật và Chư A-La-Hán. Khởi thủy của triều lưu sự sống không thể biết được vì nó phát sanh do một mãnh lực đầy vô-minh và ái-dục. 3. Do đâu chúng ta tin có sự tái-sanh? Trong kinh DHAMMAPÀDA (Pháp Cú), Ðức Phật có nói: " Trải qua vô lượng kiếp Luân Hồi (Anekajàti), Như Lai đã phải đi lạc đường, trong khi muốn tìm cho ra người thợ cất nhà này; khốn khổ thay, Như Lai đã phải sanh đi, sanh lại triền miên (Dukkha jàti puna punam) ". Trong kinh DHAMMACAKKA SUTTA có ghi lời giảng đầu tiên của Ðức Phật về cái chân lý thứ hai như vầy: "Yàyam Tanhà Ponobhavikà", nghiã là sự ham muốn quá-độ (Ái-Dục) đem lại sự Tái-Sanh; và câu kết-luận: "Ayamantimà jàti Natthidam Punhabavo" , nghiã là kiếp này là kiếp sống cuối cùng của Như-Lai. Trong kinh Majjhima Nikàya có ghi rằng vì lòng Từ-Bi Bác-Ái đối với chúng sanh, Ðức Phật thường rọi thiên-nhãn tìm người hữu duyên để tế-độ. Ngài thấy chúng sanh đương tạo nhiều tội lỗi có ảnh hưởng đến kiếp vị-lai của họ. (Paraloka Vajja Bhaya Dassàvino). Trong nhiều thời pháp, Ðức Phật thường nói rằng chúng sanh nào làm dữ, sau khi chết (Parammarana) sẽ tái sanh trong cảnh khổ; chúng sanh nào làm lành sẽ tái sanh trong cảnh vui. Trong kinh GHANTIKARA SUTTA , Ðức Phật thuật lại cho Ðại-đức ANANDA biết rằng vào thời-kỳ Phật-Tổ KASSAPA (Ca-Diếp), Ngài sanh làm một vị Bà-La-Môn, tên Jotipãla , thông suốt ba bộ kinh Phệ-Ðà. Khi vào xuất-gia theo Phật-Tổ KASSAPA, Ngài siêng năng thọ trì Tam-Học, thuộc nằm lòng trọn bộ Tam-Tạng, và được Phật-Tổ KASSAPA thọ ký. Trong kinh ANÀTHAPINDIKAVADA SUTTA có ghi truyện nhà trưởng giả Cấp-Cô-Ðộc, sau khi chết liền tái sanh vào cảnh Trời, có về viếng thăm Ðức Phật trong đêm sau. Trong kinh Anguttara Nikàya , Ðức Phật có nói đến kiếp quá khứ của Ngài, khi Ngài sanh lên làm PACETANA. Trong kinh PARANIBBÀNA SUTTA, Ðại đức ANANDA có xin Ðức Phật cho biết kiếp vị-lai của vài người vừa chết trong làng nọ. Ðức Phật đã cắt nghiã rõ rệt cho Ngài ÀNANDA biết những người ấy đã đi tái-sanh nơi đâu. 4. Nghiệp-báo và tái-sanh biện minh những chi? 1) Vấn đề khổ mà chính ta phải chịu trách-nhiệm; 2) Sự chênh lệch gần như bất công giữa nhân loại; 3) Tại sao có những vĩ nhân và thần đồng; 4) Sự khác nhau về tinh-thần tính nết của hai trẻ sanh đôi, mặc dầu giống nhau y hệt về thể xác và được nuôi dưỡng y như nhau; 5) Sự khác nhau về tánh-tình, xu-hướng của các trẻ trong một gia-đình; 6) Sự khác nhau về đạo-đức và trí-huệ giữa cha mẹ và con cái; 7) Tật xấu tự nhiên của trẻ thơ, như tham lam, sân hận và ganh ghét; 8) Mối thiện cảm hoặc ác cảm của chúng sanh đối với nhau trong khi gặp gỡ lần đầu-tiên; 9) Ðiều lành và điều dữ đã sẵn có trong mỗi người; 10) Sự thay đổi bất ngờ của một người thiện trí thức ra một kẻ tầm thường, hoặc một kẻ sát nhân thành bực thánh-nhân; 11) Cha mẹ đạo-đức sanh con hung ác, cha mẹ hung ác sanh con hiền từ; 12) Tại sao có khi ta là kết quả của hành vi quá khứ và sẽ là kết quả của hành vi hiện tại, hoặc có khi ta không phải là kết quả hoàn toàn của hành vi quá khứ, mà cũng sẽ không phải là kết quả nguyên vẹn của hành vi hiện tại; 13) Tại sao có những cái chết bất đắc kỳ tử và sự thay đổi tài sản sự nghiệp một cách bất ngờ; 14) Những đặc tính xuất chúng, tinh thần đạo đức trí tuệ viên mãn của các bậc toàn giác như Ðức Phật. 5. Triều-lưu diễn tiến của sự tái-sanh Do nơi Vô-Minh mới phát sanh hành vi tạo-tác (Sankhàrà), gồm cả tư-tưởng, lời nói và việc làm, lành dữ. Các hành-động phát khởi từ Vô-Minh hay nhuộm mầu sắc Vô-Minh, sớm muộn sẽ đem lại kết quả để cột trói ta trong vòng luân-hồi. Những việc lành dầu không do lòng tham sân si, cũng phải dứt tuyệt bợn nhơ, mới mong giải thoát luân-hồi. Vì thế nên Ðức Phật ví Pháp-Bảo của Ngài như con thuyền bát-nhã chở đưa khách lữ-hành qua khỏi sông mê biển khổ. Hành động của Chư Phật và Chư A-La-Hán không được coi như là Sankhàrà , vì nó không bị Vô-Minh chi phối. Do nơi Hành mới phát sanh cái Thức (Patisandi Vinnàna). Người ta gọi là thức Tái-Sanh vì nó nối liền quá khứ với hiện tại. Chính nó đã phát sanh trong lúc thọ thai. Danh Sắc hay Tinh-Thần và Vật-Chất (Nàma-Rùpa) cũng đồng thời phát sanh một lượt với cái Thức. Lục Căn (Salàyatana) phát sanh do hiện tượng thuộc về tinh thần vật lý. Do Lục Căn mà có sự Tiếp Xúc (Phassa). Sự Tiếp Xúc đem lại cảm giác, tức là Thọ (Vedanà). Do sự cảm giác mới phát sanh sự ham muốn ái Dục (Tanhà). Ham muốn sinh ra sự bám víu, tức là Thủ (Upàdàna). Thủ gây ra Nghiệp Quả, tức là Hữu (Bhava). Nghiệp Quả gây ra kiếp vị lai , tức là SANH (Jàti) Già và chết (Jàti-marana) là kết quả không tránh được của sự Sanh. . |
| |||
| 6. Hình thức của sanh-tử Dùng những danh từ riêng biệt tinh tế giải thích sơ lược diễn tiến của sự Tái Sanh, Phật Giáo cho rằng cái chết là do một trong bốn nguyên nhân sau đây: 1) Tận Nghiệp (Kammakhaya): sự suy kiệt năng lực tái tạo của Nghiệp (hết Nghiệp). Theo Phật Giáo, cái tư tưởng, tác ý hoặc ái dục, là một năng lực vô cùng mạnh mẽ trong lúc sinh thời; đến lúc chết, năng lực lại còn mạnh hơn muôn phần. Chính tư tưởng cuối cùng ấy định đoạt điều kiện cho kiếp sống vị lai. Ðến lúc lâm chung, tư tưởng biểu xuất một tiềm lực đặc biệt. Khi tiềm lực của Tận Nghiệp này (của kiếp hiện tại) tắt mất, thì những hoạt động của cơ thể và nguồn sinh khí liền chấm dứt trước phút cuối cùng ấy. Ðiều này thường xảy đến cho những chúng sanh trong cảnh khổ (Apàya), nhưng cũng có khi xảy đến cho những người thuộc cảnh giới khác. 2) Mãn Kỳ Hạn của Kiếp Sống (Àyukhaya), kỳ hạn này khác nhau tùy cảnh giới, như trường hợp của người chết vì tuổi già, hết tuổi thọ. 3) Năng lực tái tạo của Nghiệp và kỳ hạn kiếp Sống đồng chấm dứt một lượt (Ubhayakhaya), vừa hết nghiệp, vừa hết tuổi thọ. 4) Sự phát động đối ứng của một nghiệp lực khác mạnh hơn, làm cắt đứt thình lình triều lưu của nghiệp Tái tạo, trước kỳ hạn của kiếp Sóng. Chết bất đắc kỳ tử hay chết yểu đều do nhân này. Chết do ba nhân đầu, thường gọi chung là chết hợp thời (Kàlamarana). Chết do nhân thứ tư gọi là chết không hợp thời (Akàlamarana). Tử có bốn nhân, Sanh cũng có bốn cách: 1) Sanh từ trong trứng (Andaja: noãn sanh); 2) Sanh từ trong thai (Jalapuja: thai sanh); 3) Sanh từ chỗ ẩm thấp (Samsadeja: thấp sanh); 4) Sanh từ sự đột biến (Upapatika: hóa sanh). Những ấu trùng lấy nơi ẩm thấp làm tổ để nảy nở, như nhiều loại vi sinh vật gọi là thấp sanh. Những chúng sanh tự hóa sanh, thường mắt phàm tục không nhìn thấy được. Do điều kiện của nghiệp quá khứ, chúng sanh ấy tự nhiên xuất hiện, không phải đi ngang qua giai đoạn phát triển trong phôi thai. Hạng chúng sanh như Ngạ Quỉ (Preta), Trời (Deva) và Phạm Thiên (Brahma) đều thuộc giới hóa sanh. 7. Sự tái-sanh xuất hiện cách nào? Ví dụ như một người sắp chết. Giai đoạn nguy biến này chẳng khác nào những sự giao động chập chờn của một ngọn đèn sắp tắt. Trong tâm người hấp hối này đã hiện ra một nghiệp tướng (Kamma nimitta) hoặc một biểu tượng thọ mạng (Gati nimitta). Những hiện tượng nghiệp này phát sanh do hành động tốt xấu trong lúc sanh tiền, hoặc tức khắc trước giờ cuối cùng. Nghiệp tướng (Kamma nimitta) là những biểu tượng xuất hiện trong tâm thức của người hấp hối, hoặc bằng sự thấy, bằng tiếng, bằng vị, bằng tư tưởng, mà trước kia nó là chủ yếu mạnh nhứt, trong một hành động lành hoặc dữ của người sắp chết; ví như thấy một con dao và những thú chết trong trường hợp anh đồ tể; hoặc là thấy bịnh nhân, nếu là một vị y sĩ dễ thương; hoặc là thấy vật sùng bái, nếu là một người mộ đạo,... Biểu tượng thọ mạng (gati nimitta) có nghiã là một dấu hiệu của cảnh giới sắp tái sanh vào. Những cảnh tượng hạnh phúc hay khổ não thường hay biểu hiện trên sắc diện của người hấp hối. Khi triệu chứng của kiếp vị lai phát sanh, nếu thấy xấu có thể sửa chữa kịp thời, bằng ảnh hưởng cảm hóa tư tưởng của người sắp chết. Dấu hiệu báo trước những điều sẽ đến cho thọ mạng thường là lửa, rừng núi, vú mẹ, thiên cung, v.v... Tính chất liên tục của nguồn sống, đến lúc lâm chung, bị gián đoạn trong thời gian, nhưng triều lưu của tâm chẳng bao giờ bị ngưng trệ. Một tư tưởng này chuyển sang một tư tưởng khác, trong giờ sống cũng như trong lúc chết, vẫn in nhau; có khác là tại người nhìn vào xác chết mà tưởng tượng rằng khác đó thôi. Sự tái sanh xuất hiện tức khắc, bất kể chỗ nào, như một làn sóng điện được phát ra trong không gian, tức khắc được thâu vào một máy vô tuyến điện. Triều lưu của tâm cũng được tái sanh tức khắc khỏi phải trải qua một giai đoạn trung gian nào khác (Antarabhava). Phật Giáo chính tông không công nhận rằng tâm thức của người quá vãng phải tạm trú một nơi nào, để chờ lựa chỗ đi luân hồi. Bác sĩ Evens Wentz, chiếu theo tài liệu khảo cứu ở Tây Tạng, có viết rằng có một cảnh trạng trung gian cho chúng sanh tạm trú từ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 tuần (49 ngày); lập trường tạm trú này trái hẳn với giáo lý của Ðức Phật. Có một điều đáng hỏi: Vậy chớ tinh trùng và minh châu có sẵn sàng chờ đợi để tiếp rước cái tư tưởng đi tái sanh ấy chăng? Theo Phật Giáo, chúng sanh nhiều vô lượng. Hơn nữa hột minh châu chẳng phải là con đường duy nhứt đem lại sự tái sanh. Quả Ðịa Cầu, một điểm vi tế trong sa-bà thế giới, chẳng phải là chỗ sanh sản duy nhứt, mà loài người cũng không phải là loài chúng sanh duy nhứt, thì cũng có thể tin rằng không còn chỗ nào thích hợp để rước những làn sóng dao động cuối cùng của nguồn tư tưởng. Một điểm nào chẳng hạn, luôn luôn chực rước một viên đá từ không trung rớt xuống. . |
| |||
| 8. Cái gì đi tái sanh? Ðức Phật đã thuyết minh những điều ấy, 2500 năm về trước, trong lúc Ngài châu du trong lưu vực Sông Hằng. Phật giáo giảng dạy một loại tâm lý học không có linh hồn, cho rằng con người được cấu tạo do hai thanh phần: tinh thần và vật chất (Nàma và Rùpa). Hai thành phần này ở trong trạng thái một triều lưu thay đổi không ngừng nghỉ: * Thành phần vật chất (Sắc - Rùpa) là sự thể hiện của năng lực và các dạng năng lượng không ngừng biến đổi và tác động lẩn nhau. Sắc được qui định (chi phối) bởi 4 yếu tố: 1) Nghiệp (Kamma), tức là năng lực của những hành động trong quá khứ; 2) Tâm (Citta), tức là những phẩm chất và tác động của tinh thần; 3) Nhiệt năng (Utu), tức là sự biến đổi vật lý của yếu tố nhiệt lượng; 4) Chất dinh dưỡng (Ahara), là yếu tố dinh dưỡng của thức ăn. * Thành phần tinh thần (Danh - Nàma) là phần quan trọng nhất của bộ máy con người, gồm có: 1) Thọ hay cảm giác (vedanà); 2) Tưởng hay tri giác (sannà); 3) Hành (Sankhàrà) là sự phối hợp của 50 tâm trạng, tạo thành những sinh hoạt tâm có tác ý; 4) Những trạng thái tinh thần này diễn ra trong ý thức trường, được gọi là thức (vinnàửa). Bốn loại hiện tượng tinh thần ấy, phối hợp với hiện tượng vật chất ở trên, tạo ra năm uẩn (Pancakkhandha). Con người chính là vật cấu hợp phức tạp ấy. Mỗi đơn vị tâm xuất hiện dưới 3 dạng thái: sinh (uppàda), trụ (thiti), và diệt (bhaởga). Khi một đơn vị tâm diệt, một đơn vị khác sanh lên. Ðơn vị tâm sau chắc chắn không giống với đơn vị tâm trước - vì cấu tạo của nó đã khác - nhưng cũng không hẳn hoàn toàn khác biệt, bởi vì nó thể hiện sự liên tục của dòng nghiệp lực. Không nên lầm lẫn nghĩ rằng tâm thức bị cắt ra từng mảnh ráp nối lại với nhau như một xe lửa hay một dây xích. Trái lại, nó trôi chảy một cách liên tục như một giòng sông vừa tiếp nhận những nhánh suối phụ thuộc của các giác quan, làm tăng trưởng liên tục giòng nước, đồng thời phân phối ra thế giới bên ngoài những "chất liệu tư tưởng" mà nó đã tích tụ được. Nó có sự sanh làm khởi điểm và chết làm cuối điểm. Sự chớp nhoáng của luồng tâm thức rất khó mà đo lường xác đáng được, cho dù chỉ phóng lượng. Các nhà chú giải dám tuyên bố là một chập tâm ngắn hơn một phần tỉ của sấm chớp. Làm sao sự tái sanh có thể xảy ra được nếu không có sự hiện hữu của linh hồn? Ðối với Phật Giáo, sanh là sự thể hiện, sự xuất hiện của năm thành phần (Ngũ Uẩn) tạo thành một "cá thể". Cũng giống như sự xuất hiện của trạng thái vật lý được chi phối bởi trạng thái vật lý trước đó, tạo điều kiện cho nó; thì sự xuất hiện của tiến trình tâm - vật lý của một cá thể - được điều kiện hóa bởi những nhân duyên xảy ra trước sự sanh. Tiến trình "hình thành" hiện tại là kết quả của một ước muốn "hình thành" trong kiếp quá khứ và ước muốn "hình thành" hiện tại sẽ tạo điều kiện cho một đời sống trong kiếp vị lai. Cũng như tiến trình sống có thể xảy ra, không cần có một cái gì trường cữu chuyển di từ một chập tư tưởng này sang một chập tư tưởng khác, thì một loạt liên tiếp những tiến trình sống có thể xảy ra, không cần có một linh hồn chuyển sanh từ kiếp này sang kiếp khác. Thí dụ: chúng ta có một lô hòn bi đặt liền nhau, nếu chúng ta tống một lực thật mạnh vào hòn bi đầu tiên bất động; nó cũng sẽ ở bất động, nhưng cái lực mà nó đã nhận được sẽ được truyền cho những hòn bi khác và hòn bi cuối cùng sẽ chuyển động. Không phải hòn bi đầu tiên chuyển di vào những hòn bi khác, nhưng cái sức đẩy đã xuyên thấu và tác động trên hòn bi cuối cùng. Cũng như thế ấy, một chúng sanh, khi chết, chuyển giao nghiệp lực của nó cho một chúng sanh khác, và chúng sanh mới này bị chi phối bởi nghiệp của kẻ đi trước. 9. Có người nào tạo tác trong đời này, và một người khác phải gặt quả trong kiếp sống sau chăng? Nói rằng "người nào gieo thì người đó gặt" là một điều cực đoan. Nói rằng "người này gieo mà người khác gặt" là một cực đoan khác. Vượt khỏi hai cực đoan ấy, Ðức Phật dạy giáo lý Trung Ðạo, từ nhân đi tới quả; không phải một người, mà cũng không phải người khác (Nacasonaca Anno), giống như lời Ðại Ðức BUDDHAGOSA trong quyển "Thanh Tịnh Ðạo". Sự sanh sản của loài bướm có thể làm thí dụ rõ rệt: nó sanh ra khởi đầu từ trong một cái trứng, rồi trở thành con sâu, sau lại thành con nhộng và cuối cùng, ngẫu nhiên, thành con bướm. Sự tiến triển của một chúng sanh, trong đời sống, cũng mường tượng như thế ấy. Con bướm không phải là con nhộng, mà nó cũng không phải hoàn toàn là con sâu. Kiếp sanh của người hay của bướm là một sự diễn tiến hay sự liên tục của một đời sống. 10. Nếu không có linh hồn, như vậy có một trách nhiệm nào về tinh-thần đạo-đức chăng? Có, bởi đây là sự liên tiếp trong một cơ cấu diễn tiến, có thể xem như một cá thể đồng nhất. Ví dụ như một đứa trẻ trở nên người trưởng thành. Người này không phải tuyệt đối là đứa trẻ mà ta muốn nói, trong khi tế bào của anh đã hoàn toàn thay đổi, mà cũng không thể nói là người khác, bởi chỉ có một triều lưu sinh tồn duy nhất. Song le, cá nhân là gì nếu không phải chính người ấy, thì tất nhiên nó phải chịu trách nhiệm đối vớí hành vi của nó trong thời kỳ ấu xuân. Dầu nguồn sinh lực có tắt nơi đây và sanh lại nơi kia, nó cũng vẫn liên tiếp tồn tại trong đời; cái nguyên tố chủ yếu chính là cái nối liên tục ấy. Ví như người nọ trước kia tên A; bây giờ tái sanh lại tên B. Tên A chết thì xác thân của nó - là biểu hiện bề ngoài của nghiệp lực - đã mất rồi. Tên B sanh với xác thân mới khác. Dầu có những sự thay đổi về thể xác bên ngoài, nguồn tâm thức đi thọ sanh (Citta Santati) vô hình, vẫn liên tiếp chảy hoài, không gián đoạn bởi cái chết, và đem theo với nó tất cả những ấn tượng của Ngũ Quan đã cung cấp cho nó. Thế ấy, muốn nói cho đúng lý, nên xét coi tên B có phải chịu hoặc không chịu trách nhiệm về hành vi của tên A chăng? Có người biện hộ rằng không ai nhớ được dĩ vãng của mình vì do có cái chết xen vào. 11. Có thể nào một người kia sẽ tái-sanh lại làm thú vật không? Mọi người có thể không thừa nhận câu trả lời của Phật Giáo. Nhưng chẳng ai bị ép buộc phải mù quáng tin theo. Phật Giáo quả quyết có sự thoái hóa của nghiệp. Hình thức vật chất làm trung gian cho nguồn sinh lực liên tiếp tiến triển, chỉ là những biểu hiện tạm thời của Nghiệp lực mà ai ai cũng thấy được. Xác thân hiện tại chẳng phải trực tiếp do nơi thể xác vật chất quá khứ mà sanh ra, nhưng chắc chắn nó liên quan đến một nguồn sinh lực của cái Nghiệp. Cũng như năng lực điện khí có thể phát hiện liên tiếp dưới hình thức ánh sáng, sức nóng hoặc vận chuyển; hình thức này không cần phải phát sanh do hình thức kia. Năng lực của Nghiệp, cũng như thế ấy, có thể biểu hiện dưới hình thức của một vị Trời, một con người, một thú vật v.v; hình thức này không có liên quan với hình thức khác về mặt vật chất. Nghiệp của mọi người tạo ra hình thể vật chất, tùy theo hành vi khôn khéo, cùng không khôn khéo, đó thôi. Rồi từ đó, nó tùy thuộc hoàn toàn nơi sự tiến hoá theo trình độ hiểu biết của mỗi người về thực tế của sự vật. Thay vì nói người kia trở thành con thú, hay trái lại thú kia trở thành người, đúng hơn là nói rằng nghiệp lực thể hiện dưới hình thức một con người hay dưới hình thức một con thú. Thủơ nọ, có hai thầy đạo sĩ tên Punna và Seniya, một thầy thì tu khổ hạnh theo lối lọaì bò, thầy kia tu khổ hạnh như chó, đến hỏi Ðức Phật về kiếp vị lai của họ, Ðức Phật trả lời: "Trong đời này, một gã kia thực hành trọn vẹn không thối chuyển những thói quen, những tâm trạng, những tư cách của chó. Gã ấy đã sống theo thói thường của chó, sau khi chết nó sẽ tái sanh lại trong loài chó". Ðức Phật cũng giải thích như trên, rằng kẻ nào khổ hạnh theo bò, cũng sẽ tái sanh trong loài bò. Câu chuyện tình cờ này giải rõ ràng cách nào một con người có thể sanh lại làm thú, y theo luật thân thuộc. Theo Phật Giáo, Nghiệp tiến hoá lên, cùng Nghiệp thoái hóa xuống, đều có thể có cả. Ðây là nội dung của giáo lý về cái Nghiệp và sự Tái Sanh. -Hết- -ooOoo- |
| |||
| Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam Ðức Phật Lịch Sử (The Historical Buddha) CÁC TRIẾT LÝ ÐỐI LẬP Khoảng giữa năm 515 và 500 trước CN, tại vùng "Trung Nguyên", xuất hiện bảy vị Ðạo Sư trong số các Sa-môn có ảnh hưởng lớn đặc biệt. Ngoài đức Phật, các nguồn Kinh Ðiển Phật Giáo nêu lên danh sách các vị này (DN 2.2) 1. Pùrana kassapa (Phú-lan-na Ca-diếp) 2. Makkahi Gosala (Mạt-già-lê Cù-xá-lợi). 3. Ajita Kesakambilin (A-kỳ-đa Kỳ-xá-khâm-bà-la). 4. Pakkuda Kaccàyana (Bà-phù-đà Ca-chiên-diên). 5. Sanjaya Belatthiputta (Tán-nhã-di Tỳ-la-phê-phất). 6. Nigantha Nàtaputta (Ni-kiền-đà Nhã-đề-tử). Các vị này đều là bậc trưởng thượng, đáng tôn trọng (DN 2.2) - nhưng chúng ta phải luôn nhớ rằng thọ mạng trung bình của người ấn Ðộ vào thế kỷ thứ sáu - thứ năm trước CN được dự trù vào khoảng hai mươi hai tuổi, vì vậy một người trên năm mươi tuổi được xem là già lắm rồi. 1) Pùrana Kassapa: Pùrana kassapa tự xưng là Toàn tri kiến (AN 9.39) vì thế tên vị này có lẽ phải được giải thích là Purananõàna: có toàn tri kiến, nhất tri kiến. Chúng ta chỉ được biết về nguồn gốc vị này là người thuộc gia tộc thấp hèn, và theo hạnh du sĩ lõa thể - "mặc bộ y đức hạnh", tình trạng lõa thể này được gọi như thế. Các Kinh điễn Kỳ-na giáo nhắc đến một "kẻ khổ hạnh ngu si" tên là Pùrana có gốc từ Bebhela, chắc hẳn là vị Purana này. Một giả thuyết cho rằng vị ấy đã nhịn đói đến chết sau mười hai năm khổ hạnh và đã chết ở Sàvittha. Nhưng theo một bài Kinh Phật về sau của tạng Sanskrit (Divyàvadàna), vị ấy buộc một bình đầy đất vào cổ rồi trầm mình. Một số lời thuyết giảng của Pùrana còn được lưu lại vừa đủ để ta có thể thấy sơ lược nội dung triết lý này. Vua Ajàtasattu, người đã làm đạo với du sĩ Pùrana, tường thuật chuyện này với đức Phật như sau: "Ðạo sĩ Pùrana Kassapa nói: "Thưa Ðại Vương, không có ác nghiệp do người làm hay người xúi gục kẻ khác làm, như chém giết, đốt cháy, gây phiền muộn, khổ não, kích động, sát sanh hay cướp bốc. Thậm chí người nào dùng một bánh xe sắc như dao giết chết hết mọi chúng sanh trên quả đất này thành một đống thịt cũng không có tội ác do kết quả việc làm kia, và tội ác cũng không tăng trưởng. Hoặc nếu kẻ nào bố thí, tế lễ, cũng không có phước đức do kết quả việc làm ấy, và làm phước cũng không tăng trưởng. Bố thí, tu tập thân tâm, nói lời chân thật ... cũng không có phước báo gì". (DN 2.17, giản lược) Phù hợp với điều trên, một đệ tử của Pùrana tóm tắt Giáo lý của thầy mình bằng những lời này: "Ðạo sư Kassapa không thấy tội ác gì trong việc chém giết, lừa đảo, dối gian cả. Vị ấy cũng không tin có phước báo gì cho mỗi người" (SN 2.3.10), và Mahàli người Licchavì, tường thuật với đức Phật lời tuyên bố của Pùrana: "không có nhân duyên (điều kiện) đối với sự ô nhiễm của chúng sanh. Không có nhân duyên, chúng sanh bị nhiễm ô. Không có nhân duyên, chúng sanh trở thành thanh tịnh". (SN 22.60) Như vậy Pùrana chủ trương rằng thiện hành hay ác hành đều không có hậu quả gì đối với người tạo nghiệp, tức là vị ấy phủ nhận qui luật nghiệp báo. Vì giải thoát không cần điều kiện tiên quyết nên nó không thể được thực hiện nhờ hành động của chính mình. Nói cách khác, chúng sanh không thể góp phần gì vào sự giải thoát của mình cả, mà phải chấp nhận số phận và chờ đợi được giải thoát một cách thụ động. Thuyết định mệnh của Pùrana tương tự với thuyết của người giữ vững lập trường Aụjivika, là Makkhali Gosala. . |
| |||
| 2) Makkhali Gosala: Bản Kinh Bhagavatìsùtra của Kỳ-na giáo nêu tên của Makkhali theo lối chữ Ardha-Màgadhì là Makhaliputta Gosalà. Do vậy, vị này là con trai của người hát dạo (mankha), cái nghề mà có lẽ chính vị này đã nối tiếp cha ông. Ðứa bé thuở ấy được sinh ra trong một chuồng bò (gosàla) ở Saravana, vì thế có tên này. Makkhali gặp Nigantha Nataputta (tức Mahàvìra), vị kế thừa tổ sư sáng lập Kỳ-na giáo, khi vị này đang tu tập khổ hạnh vào năm thứ ba (524 trước CN). Bị lôi cuốn theo cách này, Makkhali cầu xin Mahàvìra nhận mình làm đệ tử, nhưng Mahàvìra im lặng bước đi. Một thời gian sau, Makkhali quyết định vứt bỏ hết y phục giống như Mahàvìra và từ đó sống suốt đời làm một Sa-môn lõa thể. Tại Paniyabhùmi, một nơi không xa Nàlandà, vị ấy gặp lại Mahàvìra, và thỉnh cầu lần nữa được nhận làm đệ tử. Lần này Mahàvìra nhận lời, và suốt sáu năm ròng, hai người sống cùng nhau chia xẻ mọi nỗi khó khăn của đời du sĩ vô gia đình. Kinh Tạng Pàli ghi lại sơ lược lý thuyết của Makkhali Gosala từ miệng vị này thốt ra. Vua Ajìtasattu tường thuật với đức Phật những lời của vị ấy, được xem là y nguyên văn: "Không có nhân duyên đối với sự ô nhiễm của chúng sanh. Không có nhân duyên, chúng sanh bị ô nhiễm. Không có nhân duyên đối với sự ô nhiễm của chúng sanh. Không có nhân duyên, chúng sanh được thanh tịnh. Sự thành đạt hình thái hiện hữu nào cũng không tùy thuộc vào tự lực, tha lực hay tinh tấn... .Tất cả mọi hữu tình, mọi sinh vật, mọi sinh loại, mọi sinh mạng (Jìva) đạt đến hình thái hiện hữu của chúng đều không do tinh tấn hay tự lực, nhưng đã thành thục như là kết quả của định mệnh (niyati), cha mẹ sinh sản (sangati) và hiện hữu (bhàva) ở đời trong sáu loại tái sanh, nơi mà giờ đây chúng hưởng thọ khổ hay lạc. Sau 8.400.000 kiếp (trong vòng luân hồi sanh tử), người hiền trí cũng như kẻ ngu si nhiều đoạn tận khổ ưu. Ta không nên suy nghĩ: "nhờ kỷ luật này, giới hạnh này, khổ hạnh này hay Phạm hạnh này ta sẽ làm thành thục các nghiệp chưa chín muồi, và sẽ đoạn trừ các nghiệp đã thành thục". Những việc ấy không thể xảy ra, khổ hay lạc đều được định phần và không thể tăng hay giảm vòng luân hồi sanh tử. Giống như một cuộn dây được tung ra sẽ kéo dài mãi cho đến khi tháo hết, cũng vậy, cả kẻ ngu lẫn người trí đều chấm dứt khổ đau khi nào họ đã lưu chuyển trọn vòng luân hồi sanh tử." (DN 2.20, giản lược). Quan điểm chính của triết lý này là số mệnh (niyati) quyết định con đường của mọi chúng sanh qua vòng luân hồi . Nó không chịu tác động của bất cứ điều gì, do vậy thiện nghiệp hay ác nghiệp đều không gây hậu quả đối với tính chất các cuộc tái sanh. . |
| |||
| 3) Ajita Kesakambalin: Không có các chi tiết nào được lưu truyền về tiểu sử của Ajita Kesakambalin (ngoại trừ sự kiện là vị này già hơn đức Phật nhiều. Biệt hiệu trên chứng tỏ là vị ấy mang áo khoác (kambala) bằng tóc (kase) một loại y mà như đức Phật nhận xét (AN 1.135), hết sức bất tiện: lạnh lẽo về mùa lạnh, và nóng nực về mùa nóng, lại hôi hám và ngứa ngáy. Không ai hiểu được tại sao vị ấy mặc y này quanh năm, bởi vì vị ấy phủ nhận giá trị của khổ hạnh , nên vị ấy cũng không hy vọng cái ý này làm gì được cho việc giải thoát. Lý thuyết duy vật- hư vô của Ajita tương tự với lý thuyết của các phái Lokàyatas, Càrvàkas hoặc Nàstikas và theo lời vua Ajìtasattu, được tóm tắt như sau: " Không có bố thí, hy sinh hay tế lễ, (những việc có thể đem giá trị cho giải thoát). Không có kết quả của các nghiệp thiện ác (kamma), không có đời này hay đời sau (mà chỉ có sự gặp gỡ các giác quan). Không có mẹ, không có cha, và cũng không có các loài hóa sanh. Ở trên đời này không có các Sa-môn hay Bà-la-môn thành tựu cứu cánh tối thượng, những vị đạt giác ngộ viên mãn, tuyên thuyết thế giới này và thế giới khác, sau khi đã chứng tri chúng bằng thắng trí của mình. Ðúng ra, con người này do tứ đại hợp thành. Khi mạng chung, địa đại trở về với đất, thủy đại trở về với nước, hỏa đại trở về với lửa, phong đại trở về với không khí và các căn tan biến vào cõi hư vô. Cả năm, nghĩa là bốn kẻ gánh quan tài và thi thể trong quan tài là năm, cùng đi đến nơi hỏa táng. Bọn người kiêng xác cứ ca ngợi tán dương cho đến tận nơi kia, nơi đống xương hóa ra màu trắng xóa và lễ vật trở thành tro bụi. Chỉ có người ngu si truyền bá các sự bố thí tế lễ. Khi chúng bảo có ích lợi cho việc kia, đó chỉ là lời dối trá trống rỗng. Kẻ ngu cũng như người trí, khi thân hoại mạng chung đều hủy diệt, tiêu vong, không còn tồn tại sau khi chết". (DN 2.23) Thật khó tưởng tượng rằng Ajita, người không đưa ra một tia hy vọng nào về đời sau hay con đường giải thoát, lại có thể được Sa-môn nào theo làm đồ đệ. Hình như vị ấy xuất hiện như một diễn giả đơn độc và chỉ có đám đệ tử tại gia mà thôi. . |
| |||
| 4) Pakudha Kaccàyana: Một lý thuyết về nguyên tử của vật chất được Pakudha Kaccàyana đề xướng, từ đó vị này rút ra những kết luận thô thiển hạ liệt. Ta chỉ đây là một người thuộc giai cấp Bà-la-môn qua danh tánh ấy. Vị này công nhận có bảy yếu tố căn bản hay thân (kàya) thuộc về bảy loại hoàn toàn khác biệt do đó mọi vật được cấu thành. Chúng không được sáng tạo, thường hiện hữu và bất biến. Bảy yếu tố căn bản ấy là: đất, nước, lửa, gió, lạc, khổ và linh hồn hay mạng căn (Jìva). "Không có người bị giết hay người chết, không có người nghe hay người nói, cũng không có người biết hay người cho biết. Bất kỳ ai chặt đầu người khác với kiếm sắc bén cũng không đoạt mạng sống của ai cả. Kẻ ấy chỉ xuyên lưỡi kiếm vào khoảng hư không nằm giữa bảy yếu tố kia (chứ không làm hại vật gì cả). (DN 2.26) Sự thật là bảy yếu tố căn bản kia, nếu được phối hợp thành một tổng thể có sức sống, khả dĩ bao hàm một hiện tượng cao quí hơn, vĩ đại hơn con số cọng đơn giản tất cả yếu tố lại, rõ ràng điều này không soi sáng vào lý luận của Pakudha. Tuy nhiên ,về phương diện lịch sử, đạo sư này cũng có địa vị quan trọng như một người chủ trương thuyết nguyên tử vật chất đầu tiên của Ấn Ðộ. Bảy yếu tố căn bản của vị này về sau được phái Ajivika phương nam tiếp nhận, vì vậy đôi khi vị ấy cũng được gọi là một vị Ajivita. 5) Sanojaya Belatthipputta: Kinh điển Phật giáo đưa ra một hình ảnh khá mờ nhạt về vị này, có lẽ đây chính là vị Sanojaya ở Ràjagaha đã có thời là đạo sư của hai tôn giả Sàriputta và Moggallàna. Trong cuộc đàm luận với vua Ajàtasattu, vị này tự xem mình là một người theo thuyết hoài nghi và bất khả tri, bài bác mọi lý thuyết không được thiết lập trên quan sát và kinh nghiệm. Có lẽ triết lý này cũng có một ý nghĩa nội dung tích cực nào đó, song nếu vậy thì nội dung ấy đã không tồn tại qua hai ngàn năm trăm năm kể từ thời sơ khai. |
| |||
| 6) Nigantha Nàtaputta (nam tử của gia tộc Nàtha theo phái Ly Hệ Phược), có tên riêng là Vardhamàna, và là con trai của vị võ tướng quý tộc nhiều quyền lực Siddhattha cùng phu nhân Trisalà. Vị ấy sinh năm 557 trước CN tại Kundagràma (nay là Basukund) gần Vesàli, về sau nỗi tiếng hơn với các danh hiệu tôn quý như Mahàvìra (Ðại Hùng) và Jina (Thắng Giả). Tên gọi tôn giáo của đạo sư này, Kỳ-na giáo, phát xuất từ biệt hiệu thứ hai. Con đường đi đến giải thoát dành cho cư sĩ được chia làm mười một giai đoạn (pratimà). Vì không thể nào tránh làm hại các sinh vật bé nhỏ ở trong đất, nên giữa các nghề, người thế tục bị cấm làm nghề nông. Thế là cộng đồng cư sĩ đạo Kỳ-na đa số gồm thương gia, nhiều người đã trở thành giàu có nhờ buôn bán vàng ngọc. Vàng ngọc là vật vô tri, do vậy sử dụng chúng không làm hại jìva nào cả. Chứng đắc viên mãn (siddhi) và giải thoát (moksa) chỉ có thể do giới tu sĩ thành tựu. Ðiều này cốt yếu là giải thoát linh hồn, phục hồi sự thanh tịnh của àtman. Những ai được giải thoát (kevalin) sau khi chết sẽ cư trú trên cõi trời cao hơn vũ trụ này. Tại đó họ tồn tại như những linh hồn phi thể chất trong một trạng thái cực lạc toàn tri kiến, bất động, ly hỷ, vô ưu. Trên đây là sơ lược giáo lý Kỳ-na, mặc dù một vài điểm có thể đã được phân loại về sau, tuy nhiên, điều chắc chắn là các tư tưởng tinh túy đều đã có từ thời tổ sư Mahàvìra, thậm chí cả tổ Pàrsva nữa. Kinh điển Pàli không có dấu hiệu nào cho thấy đức Phật đã từng đích thân hội kiến bất kỳ ai trong số lục sư ngoại đạo danh tiếng ở thời ngài cả. Theo nguyên tắc ngài tránh các cuộc gặp mặt như vậy (Snip 828, 912) mặc dù rất có thể là ngài sẽ thắng trong bất kỳ cuộc tranh luận nào với chư vị ấy. Ngài được xem là một đối thủ đáng kính nể, khó thắng được. "Sa-môn Gotama đầy mưu lược, vị ấy biết nhiều xảo thuật mê hoặc lôi cuốn (tức là cảm hóa) các đệ tử ngoại đạo". Vị đệ tử Kỳ-na giáo Dìhatapassin (Trường Khổ Hạnh Giả) tường trình với đạo sư Mahàvìra của mình như vậy, sau khi đã tranh luận với đức Phật (MN 56). Tổ Mahàvìra có lễ cúng để dễ dàng tạo được một số ý kiến cá nhân đánh giá "Sa-môn Gotama", vì cả hai vị đều ở gần nhau tại Nàlandà (MN 56). Về phương diện khác, đức Phật cũng không quan tâm đến việc kết giao với tổ Mahàvìra. H.W. Schumann (1982 ) . |
| |||
| HẠNH PHÚC VÀ NHU CẦU Nếu người ta công nhận hạnh phúc là cứu cánh của con người và nhu cầu là động lực cuả họ thì là hạnh phúc chắc hẳn phải là kết quả cuả việc thoả mãn nhu cầu. Con người ai cũng mong được hạnh phúc là cái cảm giác, cái tình trạng tốt đẹp, thoải mái, sung túc, an tâm, sung sướng, thỏa mãn. Thoả mãn ở đây không có nghĩa là mãn nguyện vì hy vọng cũng là một yếu tố của hạnh phúc. Ðể có được hạnh phúc, con người đòi hỏi được thoả mãn những thứ gọi là nhu cầu. Nhu cầu có thể là những cái con người mong muốn và cũng có thể là những cái mà con người thực sự cần có để được hạnh phúc. Con người có thể muốn một cái gì vì tưởng là nó sẽ mang lại hạnh phúc cho họ nhưng kết quả mang lại có thể không như ý họ mong muốn. Vậy câu hỏi được đặt ra là con người có những nhu cầu nào và thoả mãn nhu cầu ra sao thì được hạnh phúc. PHÂN LOẠI NHU CẦU Theo nhà tâm lý học Abraham Maslow thì con người có những nhu cầu cao thấp khác nhau. Tuy nhiên sự liệt kê, xếp hạng và phân tích từng nhu cầu vẫn là những vấn đề cần được nghiên cứu thêm hay đang được bàn cãi. Các nhu cầu cũng có nhiều liên hệ với nhau. Chúng ta có thể phỏng theo Maslow mà xếp 5 hạng nhu cầu theo thứ tự từ thấp lên cao như sau đây: - Nhu cầu sinh lý (physiological needs) - Nhu cầu an toàn (safety needs): - Nhu cầu xã hội (social needs): - Nhu cầu huyễn ngã (esteem needs) - Nhu cầu mỹ chân thiện (self-actualization needs) Nhu cầu sinh lý và căn bản Ðây là những nhu cầu cần thiết cho thân thể để được tồn tại, mạnh khoẻ, thoải mái như không khí để thở, ăn uống, hoạt động, nghỉ ngơi, tình dục, tiện nghi, giải trí. “Cơm no ấm cật” là một thành ngữ để chỉ nhu cầu này. Ðây là nhu cầu căn bản mà các động vật đều có. Bản năng sinh tồn là khả năng tự bảo vệ của sinh vật và con người bao gồm phản xạ, linh tính và các khả năng khác. Sức khoẻ thường được coi là ưu tiên hàng đầu của con người mặc dù có thể họ không có nhiều ý thức và kiến thức về nó. Nhu cầu tình dục ở đây, không bao gồm nhu cầu nối dõi, được coi là quan trọng nhưng mức độ cũng thay đổi theo từng cá nhân. Ăn uống vừa là bản năng sinh tồn vừa làm cho người ta thích thú mặc dù ăn ngon không nhất thiết là tốt cho cơ thể. Những tiện nghi như nhà cửa, xe cộ, máy móc vưà thoả mãn được những nhu cầu căn bản, vừa thoả mãn những nhu cầu cao hơn. Giải trí căn bản chỉ bao gồm những việc giản dị làm cho người ta thấy thoải mái mà không đòi hỏi trình độ nghiên cứu, học hỏi của nhu cầu Chân Thiện Mỹ. Nhu cầu an toàn và vĩnh cửu Ðây là những nhu cầu cần thiết để không cảm thấy bất trắc, lo lắng cho hiện tại hay tương lai hay là để hy vọng cho một tương lai tốt đẹp hơn. Tiền bạc, tài sản và thế lực thường làm người ta cảm thấy an toàn hơn. Con người ai cũng mong được sống lâu và nhiều người còn mong mỏi được sống một đời sống khác tốt đẹp hơn sau khi chết. Nhu cầu xã hội Ðây là những nhu cầu cần thiết để được những người chung quanh chấp nhận, yêu mến như tình yêu, gia đình, bạn hữu. Gia đình là môi trưòng gần nhất mà người ta thường sống. Tình yêu trai gái là một nhu cầu mãnh liệt và bao giờ cũng đi đôi với nhu cầu tình dục. Tình dục cần thiết để cho việc duy trì nòi giống nhưng hai thứ đó không nhất thiết phải đi đôi. Nhu cầu con cái không những là nhu cầu xã hội mà còn là nhu cầu vĩnh cửu vì người ta cảm thấy đời sống mình còn tiếp diễn qua con cái. Ðây có lẽ là lý do tại sao cha mẹ hay bắt con làm theo ý của mình hay theo đuổi hoài bão, sự nghiệp của mình. Nhu cầu huyễn ngã Đây là những nhu cầu cần thiết để cảm thấy tự tin, hãnh diện và được trọng vọng. Nhu cầu này rất mạnh và xã hội hay đề cao cái danh tiếng nên sinh ra những biến thể của nhu cầu này như tự kiêu, háo danh, háo thắng. Nhiều người sẵn sành hy sinh nhiều nhu cầu khác để được cái tiếng hão. Nhu cầu mỹ chân thiện Khi những nhu cầu căn bản đã được thoả mãn, con người bắt đầu đi tìm những nhu cầu cao hơn để thoả mãn. Người Việt có thành ngữ “Phú quý sinh lễ nghĩa” để chỉ hiện tượng này. Con người bắt đầu theo đuổi những cái đẹp như văn chưong, nghệ thuật (Mỹ). Con người cũng muốn mình trở nên hiểu biết hơn về môi trường mình sống hay về chính mình (Chân). Con người còn muốn làm gì tốt đẹp cho những người chung quanh và cho xã hội (Thiện). Tinh thần vị tha này đưọc xếp cao nhất vì hành động để thỏa mãn nhu cầu lương tâm của mình lại có lợi cho người khác và cho xã hội. THOẢ MÃN NHU CẦU, CÁC MẪU NGƯỜI Phần lớn các hành động của một con người đều do nhu cầu thúc đẩy, tuy nhiên một hành động có thể làm thoả mãn nhiều nhu cầu khác nhau. Tình dục có thể vừa cho nhu cầu sinh lý, vừa cho nhu cầu xã hội. Thể thao vừa là cho sức khoẻ, vừa là giải trí, vừa là giao tiếp. Tôn giáo vừa thoả mãn nhu cầu vĩnh cửu, vừa thoả mãn nhu cầu mỹ chân thiện và vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội qua giáo đoàn. Những nhu cầu thấp cần thiết cho những nhu cầu cao nhưng các nhu cầu cao lại hỗ trợ cho những nhu cầu thấp. Các nhu cầu có nhiều liên hệ mật thiết với nhau. Thí dụ như khi thiếu sức khoẻ, người ta không có sức để làm bất cứ cái gì; thiếu kiến thức thì việc giúp ích cũng không mang lại kết quả nhưng kiến thức lại cần cho việc giữ gìn sức khoẻ. Thường thường người ta phải lựa chọn và hy sinh nhu cầu này để thoả mãn những nhu cầu khác. Thí dụ như có người chịu làm việc cực nhọc hay hại sức khoẻ để kiếm tiền nhiều hơn cho những nhu cầu khác. Người ta thường ca tụng hành động hy sinh nhu cầu thấp cho nhu cầu cao vì nhu cầu cao có lợi cho xã hội hơn. Tuy nhiên trong thực tế sự chọn lựa tuỳ theo từng cá nhân. Nhân vật nữ chính trong phim Havana là một thí dụ về sự lưạ chọn giữa tình yêu và lý tưởng và nhân vật chính nam (Robert Redford) là một thí dụ về sự hy sinh cho tình yêu nghiã là bỏ nhu cầu thấp lấy nhu cầu cao. Con người có trực giác và trí phán đoán nên đa số tìm được hạnh phúc qua việc cân bằng các nhu cầu. Những người thiếu cân bằng hay ở vào mức nhu cầu thấp sẽ dễ đi tới chỗ đau khổ. |
| |||
| Tuỳ theo khuynh hướng thỏa mãn nhu cầu của một cá nhân, chúng ta có thể tạm phân ra các mẫu người sau đây: - Mẫu người Cân Xứng - Mẫu người Ðỉnh Cao - Mẫu người Nặng Nề - Mẫu người Lưng Chừng - Mẫu người Giản Dị Mẫu Người Cân Xứng Họ có khuynh hướng thoả mãn nhu cầu một cách cân bằng nghiã là lượng độ của những nhu cầu thấp cân xứng với những nhu cầu cao. Khi họ có thêm khả năng thì họ thoả mãn thêm những nhu cầu thấp và cũng thoả mãn thêm những nhu cầu cao. Họ là những người hạnh phúc và cân bằng vì họ thoả mãn nhu cầu một cách đều đặn. Khi họ càng đầy đủ thì họ càng muốn giúp đỡ người khác. Mẫu Người Ðỉnh Cao Có những người sẵn sàng bỏ những nhu cầu thấp để chạy theo những nhu cầu đỉnh cao. Họ có ý chí mạnh đến mức họ có thể chịu khổ và chịu chết cho nhu cầu cao của họ như hoài bão hay lý tưởng. Họ là những anh hùng có tên tuổi hay không tên tuổi. Họ hy sinh với một nụ cười và đạt được một thứ hạnh phúc cao quý. Cao quý nhất trong loại này vẫn là những người sẵn sàng hy sinh cả tính mạng lẫn tiếng tăm vì tinh thần vị tha, lo cho người khác và cho xã hội. Các khoa học gia, các nhà nghiên cứu sẵn sàng hy sinh cuộc đời cho cái Chân. Nghệ sĩ nhịn đói để theo đuổi cái Mỹ. Biết bao nhiêu người vì cái Thiện mà hy sinh đời mình cho người khác hay cho nhân loại. Mẫu Người Nặng Nề Học là những người bị chìm đắm trong việc giải quyết những nhu cầu thấp mà không bao giờ lên được những nhu cầu cao. Họ không bao giờ thấy những nhu cầu thấp cuả họ là đủ. Họ là những người ích kỷ . Khi có một vấn đề xảy ra cho nhu cầu thấp cuả họ thì họ sẽ bị đau khổ trầm trọng. Nhân vật chính trong phim “Suite 16” là một thí dụ hùng hồn. Sau khi bị tàn tật và không giải quyết được nhu cầu sinh lý, anh chàng trở nên đau khổ, tuyệt vọng vì trong đời chàng không bao giờ nghĩ tới những nhu cầu thanh cao. Nhiều người thuộc mẫu ngưòi này cũng ở vào vị trí khá cao trong thứ bậc nhu cầu nhưng vẫn chưa cao đủ cho biến cố xảy ra trong đời họ. Nhân vật chính trong phim “About Smidth” (Jack Nicholson) là một thí dụ cụ thể. Ðây là một anh chàng có địa vị và gia đình, nghiã là các nhu cầu đã đưọc thoả mãn đầy đủ tới mức huyễn ngã, bị về hưu sớm, vợ chết và thất vọng vì đưá con gái, bỗng trở nên chán đời và khủng hoảng tinh thần. Nếu ông thật sự là con người vị tha hơn hay ông theo đuổi chân thiện mỹ thì chắc ông sẽ không bị như vậy. Mẫu Người Lưng Chừng Họ thường chú trọng như bị ám ảnh bởi một cái nhu cầu nào đó ở lưng chừng. Họ có thể là là những người ham kiếm tiền nhưng lại không bao giờ tiêu tiền. Họ có thể là những người sẵn sàng làm tất cả cho con cái, kể cả việc làm hại người khác. Họ cũng có thể là những người có thể hy sinh tính mạng cho cái tiếng tăm nhưng lại có thể làm việc trái lương tâm cho cái tiếng tăm đó. Những người người này sẽ gặp đau khổ khi thấy cái mà họ hy sinh cho không có đủ ý nghĩa nữa. Mẫu Người Giản Dị Họ là những người giản dị, hồn nhiên, không đòi hỏi nhiều nhu cầu nhưng họ là những người vị tha biết thương người. Họ không phải là những người tài giỏi nhưng họ tìm được hạnh phúc trong sự quân bình. TƯONG QUAN GIỮA NHU CẦU, HẠNH PHÚC VÀ ÐỜI SỐNG Trong đời sống, con người cũng như xã hội và thiên nhiên đều có khả năng tự bảo vệ, tự thoả mãn và tự cải tiến. Yếu tố nhu cầu của bản chất con người cũng phải dựa trên căn bản này. Những nhu cầu thấp chỉ phụng sự cá nhân nhưng những nhu cầu cao còn có lợi cho xã hội. Nếu con nguời không biết tự bảo vệ thì họ sẽ bị huỷ hại nhưng nếu họ ích kỷ chỉ nghĩ đến họ thì xã hội sẽ bị huỷ hại. Như vậy, chúng ta có thể tin là những người vị tha là những người hạnh phúc. Nếu ngược lại chẳng hoá ra là tạo hoá muốn tự huỷ hại hay sao? graffiti |






Linear Mode