| ||||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
| THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP OSHO. ![]() Tên thực của Osho là Acharya Rajneesh, sau đổi là Bhagwan Shree Rajneesh (1931-1990). Ông sanh ngày 11 tháng 12 năm 1931 tại làng Rajneesh Chandra Mohan tỉnh Kuchwara, miền Trung Ấn Độ. Vào cuối đời ông đổi tên là Osho. Song thân ông theo đạo Kỳ Na (Jainism), nhưng bản thân ông chưa từng gia nhập một tôn giáo nào trong suốt quãng đời của ông. Từ lúc còn bé, Osho đã tỏ ra là một con người có cá tính độc lập, cương quyết, nổi loạn và luôn luôn bảo hộ ý kiến của mình. Theo sách của ông ghi lại, ông đã đạt định “samadhi” và chứng ngộ vào ngày 21 tháng 3 năm 1953 lúc ông 21 tuổi. Rajneesh đậu bằng Cao học Triết từ viện đại học University of Saugar. Sau đó ông dạy Triết học tại viện đại học University of Jabalpur trong chín năm. Cùng thời gian đó ông đi du thuyết nhiều nơi và trở nên một nhà lãnh đạo tôn giáo. Năm 1966, ông từ nhiệm việc giảng dạy tại viện đại học Jabalpur và tập trung các nỗ lực vào việc giáo huấn cho các đệ tử theo ông. Ông thường tiếp các nhóm tu học và cá nhân ở căn hộ apartment của ông ở Bombay, ông hành xử như là vị lãnh đạo tâm linh của họ. Phần lớn các đệ tử của ông đến từ Âu Châu và đã ở Ấn từ vài năm trước. Năm 1974, Osho từ bỏ Bombay đến thành phố Pune (Poona), miền Nam Ấn thiết lập trung tâm tu học. Có nguồn tin từ những người chống đối ông cho rằng việc ông rời Bombay là do những sự chống đối của cư dân địa phương. Thực tế việc đến Pune là do nhu cầu phát triển cơ sở hầu thoả mãn chỗ ăn ở và tu tập cho các đệ tử. Trung tâm tu học mới rộng sáu mẫu, nằm ở ngoại ô thành phố Pune. Người ta ước tính có tới năm mươi ngàn người Tây Phương đã đến đây tu học để tìm cầu giác ngộ với ông. Vào năm 1979, ông nhìn thấy phong trào tu học theo ông như là một con lộ nhắm hướng bảo hộ dòng giống sinh sản mới cho nhân loại. Ông nói: “Nếu chúng ta không thể tạo ra những người mới trong hai mươi năm tới, thì nhân loại sẽ không có tương lai. Cuộc tàn sát kiểu holocaust trên quả địa cầu chỉ có thể được ngăn chặn nếu chúng ta cho ra đời những con người mới”. Osho dạy một loại thiền mới, một loại thiền động (dynamic meditation) mà ông lấy từ các đạo Kỳ Na giáo (Jainism), Ấn Giáo (Hinduism), Phật Giáo, Lão Giáo (Taoism), Thiên Chúa Giáo (Christianity) và một vài tư tưởng triết học nổi tiếng đương thời, rồi pha trộn thành của mình. Năm 1980, ông bị một người theo Ấn Giáo tấn công bằng dao trong khi ông đang thuyết giảng. Vết thương không nặng nhưng do sức khoẻ của ông vốn yếu kém từ những năm trước đây nay trở nên tồi tệ hơn. Một vài đệ tử thân cận với ông cho biết ông thường hay đau yếu và mắc phải hội chứng mệt mỏi (Chronic Fatigue Syndrome CFS), bị bệnh tiểu đường loại 2, bệnh đau bắp thịt, bệnh cao áp huyết và thường xuyên dùng thuốc Valium. Năm 1981 ông rời Ấn Độ qua Hoa Kỳ chữa bệnh. Các đệ tử của ông mua một nông trại rộng 65,000 mẫu tại Big Muddy Ranch, Dalles, Wasco County, bang Oregon với giá 6 triệu dollars. Nông trại này sau đó được đổi tên là Rajneeshpuram . Ông đã thiết lập được một làng tâm linh tu học rộng lớn cách thị trấn Antelope 12 miles với một giảng đường rộng 88,000 square foot, một sân bay nhỏ và 4000 hội viên thường trú, một số được trang bị súng phòng thủ. Đời sống trong làng bị nhiều áp lực từ ban lãnh đạo của Oshọ cho đến chính quyền địa phương. Nhiều cư dân địa phương xung quanh sống lâu đời ở đây đã dị ứng với những người mới đến này. Họ chống đối sự hiện diện của nhóm người do ông lãnh đạo, và vì vậy đã có những sự va chạm lẫn nhau. Thành phố từ chối cấp giấy phép xây cất và ra lệnh triệt hạ những cơ sở đã xây không có giấy phép. Khi các viên chức chính quyền địa phương ngăn cản việc xây cất không có phép, thì văn phòng chính quyền liền bị nhóm người lạ mặt ném chất nổ. Do hội đồng thành phố tiếp tục từ chối cấp giấy phép xây cất, nên các đệ tử của Osho bầu người của mình vào hội đồng thành phố. Tân hội đồng thành phố lãnh đạo bởi phe thân Osho, đổi tên Antelope thành City of Rajneesh. Hai phụ tá cao cấp của Osho là Sally-Anne Croft và Susan Hagan bị truy tố liên quan đến một số tội ác, bao gồm cả tội dự mưu ám sát vị luật sư công tố Charles Turner và vị bác sĩ riêng của Osho. Hai viên phụ tá này bị kết tội 5 năm tù ở với tội danh âm mưu ám sát viên luật sư công tố liên bang Charles Turner, trong âm mưu ngăn chặn việc đóng cửa nông trại. Một số phụ tá khác của Osho chạy thoát về Thuỵ Sĩ, ở đó họ còn nắm giữ một số trương mục ngân hàng cho tổ chức Osho. Năm 1983, thư ký riêng Sheela Silverman của Osho thay mặt Osho tuyên bố sẽ có đại cơn tàn phá địa cầu trong khoảng từ 1984 và 1999. Các thành phố Tokyo, New York, San Francisco, Los Angeles, Bombay sẽ bị xoá tên khỏi bản đồ thế giới. Điều tiên đoán này không xảy ra và người ta cũng nghi ngờ điều tiên đoán đó không phải của Osho. Theo tài liệu lưu giữ tại Quốc Hội Hoa Kỳ Congressional Record và ghi lại trong quyển sách Germs, New York Times reporter Judith Miller, [Simon & Schuster Book] cho biết một số đệ tử của Osho là thủ phạm gieo rắc vi khuẩn Salmonella tại một số nhà hàng bán salad bar nhằm đe doạ cư dân ủng hộ dự án luật ngăn cấm các hoạt động của Osho. Trong vụ này có 751 người nhiễm vi khuẩn Salmonella. Sự cố này đã gây chấn động ở Hoa Kỳ vào năm 1984 khi được các đài truyền hình quốc gia như ABC News, Lehrer NewsHour of Public Television loan tải trong ngày 1 tháng 10 và trên tuần báo Time Magazine, số ra ngày 3 tháng 10, với tựa đề là "America's First Bioterrorism Attack." [01], [02], [03] Lo sợ bị chính quyền áp dụng biện pháp mạnh, một số đệ tử của Osho đã thu xếp cho ông di chuyển đến thành phố Charlotte, bang North Carolina. Nhưng báo Origonian cho biết là Osho đã được các đệ tử đưa đi trốn qua vùng hải đảo, biển Caribbien bằng một máy bay riêng của ông, nhưng bị chận bắt khi máy bay dừng tiếp tế nhiên liệu tại Charlotte, North Carolina. Osho bị bắt giữ vì đã liên tiếp vi phạm luật di trú Hoa Kỳ. Ông bị kết tội môi giới làm giả hôn nhân cho những đệ tử mang quốc tịch Ấn kết hôn với những đệ tử mang quốc tịch Hoa Kỳ để hợp pháp hoá việc định cư. Osho cũng bị truy tố về tội khai man trên những giấy tờ di trú. Năm 1987 Osho nhận tội, bị phạt 400 ngàn Mỹ kim và trục xuất khỏi Hoa Kỳ. Ông trở về lại Pune (Poona) Ấn Độ, ở đó sức khoẻ của ông trở nên trầm trọng. Osho quyết định khai tử tên Rajneesh (có lẽ là để dấu khuôn mặt thật của ông bị lộ diện ở Hoa Kỳ) và khai tên mới là Osho. Ông từ gĩa cõi đời ngày 19 tháng 1 năm 1990. Giấy khai tử ghi nguyên do tử vong là bệnh trụy tim. Vào thời kỳ cao điểm, có khoảng 200 ngàn hội viên và 600 trung tâm tu học trên thế giới. Osho bị nhiều nhóm chống đối coi ông như là một giáo phái ma quỷ (an evil). Ông cũng được họ gọi là “sex guru” vì ông quảng bá mạnh mẽ về sex. Ông cho rằng “sự thèm khát dục bên trong mỗi chúng ta có thể trở thành chiếc thang mà qua đó đạt tới ngôi đền của tình yêu", rằng "dục bên trong mỗi chúng ta có thể trở thành phương tiện để đạt tới siêu tâm thức, đạt tới định samadhi.” Ông chỉ bày kỹ thuật giao hoan nam nữ cho dài lâu. Xin trích đoạn: “… Việc thở của người ta càng nhanh, thì thời gian giao hợp càng ngắn; hơi thở người ta càng bình thản và chậm chạp thì việc đó càng kéo dài hơn. Và việc giao hợp càng kéo dài lâu, thì càng nhiều khả năng từ dục tạo ra cánh cửa tới samadhi, một kênh cho siêu tâm thức. …. Vào lúc giao hợp chúng ta ở gần với Thượng đế. Thượng đế tồn tại trong chính hành động sáng tạo cho sinh thành nên cuộc sống mới, và do vậy thái độ của người ta nên giống như thái độ của người đi vào chùa chiền, đền đài hay nhà thờ. Vào lúc cực khoái chúng ta ở gần nhất với đấng Tối cao (From Sex To Super-Consciousness – Osho International Foundation) Osho phát triển một dạng thiền năng động mới mẻ, được nhiều người biết với tên Dynamic Meditation, thường khởi đầu với các hoạt động mạnh mẽ về thể chất như nhảy múa với âm nhạc kích động, sau đó là thiền im lặng. Phương pháp thiền này, theo Osho, có thể phát triển đến một trạng thái “không tính” và đạt đến giác ngộ. Hành giả sau đó sẽ trở thành “no past, no future, no attachment, no mind, no ego, no self” Trong thập niên 1980, các đệ tử của Osho thường mặc y phục toàn màu vàng cam đậm (có khi màu nâu đỏ), không phải chỉ có áo choàng. Vì vậy, họ được gọi là "Orange People". Tên gọi nầy khá phổ thông trong thời kỳ đó. Osho ban tước hiệu mới cho đệ tử. Nam được gọi là “Swami” và nữ được gọi là “Ma”. Mặc dầu đa số đệ tử sống trong môi trường khiêm tốn và đơn giản, nhưng Osho, ngược lại, sống trong xa hoa lộng lẫy, tư thất ông ở có máy điều hoà không khí, có bồn tắm nước nóng. Ông có 27 chiếc xe hơi mang hiệu Rolls Royces do các đệ tử hiến cúng. (Có sách nói 93 chiếc) Osho dạy rằng Thượng đế trong mọi người và hiện diện mọi nơi chốn. Không có gì ngăn cách giữa God và Not God. Ông thừa nhận Jesus Christ đã giác ngộ và tin tưởng là Jesus còn sống sau khi bị đóng đinh trên cây Thập tự giá và trốn qua Ấn Độ, ở đó Jesus chết lúc 112 tuổi. Osho nói rằng ông không chỉ định người kế vị khi ông qua đời, vì tất cả các đệ tử của ông đều sẽ là những người kế vị ông. Tuy nhiên, trước khi chết, ông đã chỉ định một hội đồng gồm 21 người điều hành trung tâm tu học Pune. Trung tâm này đã được phát triển từ 6 mẫu thành 32 mẫu. Ngày nay họ điều hành 20 trung tâm trên khắp thế giới và trở thành một tổ chức kinh doanh với lợi tức hàng năm lên đến nhiều triệu Mỹ kim. Ảnh hưởng chính của Osho bây giờ chính là những sách viết của ông. Cũng nên biết hai phụ tá cao cấp của Osho là Sally-Anne Croft và Susan Hagan bị kết án 5 năm tù ở Oregon hồi năm 1995, đã được phóng thích trước thời hạn mãn tù vào tháng 6 năm 1998 và bị trục xuất về Anh Quốc. Nguồn : http://www.thuvienhoasen.org/ddpp-hientuongosho.htm Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |
| ||||
| Phải chăng Osho là một hiện tượng của thập niên 80 giống như Thầy Thích Chân Quang của thế kỷ 21 . Hai nhân vật này đều có duyên nợ với Phật Giáo , vì cả hai đều dùng giáo lý của Ngài Thích Ca mang một tiềm ẩn vừa cải cách , vừa chấn chỉnh và vô tình hay cố ý đánh phá Phật giáo một cách tinh vi đầy khoa học . Hai nhân vật này cùng chung mẫu số cho rằng Mật tông truyền thừa dục tính và dâm đảng . Ở đây tôi không có tham vọng so sánh " Hiện tượng " Osho và Thích Chân Quang , tôi chỉ đưa ra hình ảnh hai vị nhằm dẫn dụ cho tiêu đề " Chân lý Thích Ca " về sau . Nếu chúng ta nói rằng ông Osho là một Đạo Sư và những lời giảng dạy của ông là Giáo lý thì không đúng vì tất cả những lời giảng của ông không có gì mới lạ, chỉ là sự góp nhặt rồi pha trộn từ một số giáo lý của các đạo Kỳ Na giáo (Jainism), Ấn Giáo (Hinduism), Phật Giáo, Lão Giáo (Taoism), Thiên Chúa Giáo (Christianity) và một vài tư tưởng triết học đương thời. Ông bắt đầu sự nghiệp bằng việc giảng dạy môn Triết học tại Đại học, rồi từ đó chuyển qua dạy về khoa Tâm linh cho những đệ tử và những người theo ông. Cũng vậy , Thầy Chân Quang cũng bắt đầu bằng những bài thuyết giảng khác lạ như " Ăn cá đựơc phước " hay cho rằng kinh Đại Thừa có nhiều thêm thắc , ngụy tạo , A Di Đà chưa thành Phật và nghi ngờ cỏi Tây Phương là không thực . Băng đĩa đựơc bán , phổ biến rộng rải như là một luồng gió mới khắp năm châu , đã gây một làng sóng chống đối của Giáo hội , quý Thầy và Phật tử thuần thành . Tuy nhiên cả hai ông vẫn đựơc đa số giới trẽ , Phật tử tiến bộ đón nhận và tìm hiểu , đó là tâm lý thường tình của con người thích đổi thay , mới lạ . Ông Osho đã tung ra thị trường một sản phẩm mới nhiều hấp dẫn. Đó là những lời hứa hẹn “giác ngộ và giải thoát” bằng một đường lối rất quyến rũ là con đường tình yêu và tình dục; mà ông tin rằng sẽ được đón nhận ở cả phương Tây lẫn phương Đông. Cũng như Thầy Chân Quang tự nhận đến từ cỏi Vô Hình , còn là cháu CT Hồ Chí Minh , đây là cái gai nhọn cho thế lực chính trị Quốc - Cọng có dịp nhảy vào tuyên chiến . Cả hai mặc dầu là người độc tài, độc tôn, độc đoán, nhưng hai ông lại là những nhà thuyết giảng có tài, có mãnh lực quyến rũ và thuyết phục người nghe, người đọc. Những điều ấy của hai ông gây xáo trộn ngay trong nội bộ của Phật Giáo , dư luận quần chúng cũng đã từng xảy ra không biết bao nhiêu cuộc tranh cãi kịch liệt giữa những vị sư,Phật tử có lúc họ còn nặng lời , đưa những hình ảnh , video nhằm hạ bệ với nhau, giữa những đệ tử có lúc đi đến ẩu đã , xâu xác nhau bằng lời nói lẫn hành động . Các Ông có lối diễn giảng như hỏa mù, vừa ca ngợi, vừa xuyên tạc đạo Phật qua các Tông phái Đại Thừa , Mật tông , lại vừa lợi dụng uy tín của đức Phật, dùng đức Phật như một tấm bình phong ; nhưng thực chất bên trong nôị dung những điều ông giảng lại chứa đựng những tư tưởng đối nghịch cho rằng ăn cá không sát sanh , thanh niên có quyền tự vệ và cổ xuý tình dục hoàn toàn trái với tư tưởng nhà Phật . Osho giảng về tình dục một cách công khai và trắng trợn ở khuôn khổ tôn giáo , điều mà Thầy Chân Quang cũng đã giảng Mật tông dâm lọan : “Người ta nghĩ là tôi đang rao giảng về tình dục. Không phải vậy, tôi là một trong những người rao giảng Thượng Đế . Nếu tôi có nói những chuyện liên quan đến tình dục, dĩ nhiên là phải có lý do –mà cái lý do chính là tôi muốn rằng bạn phải hiểu biết về nó trước khi quá trễ. Hiểu biết về nó, hiểu biết một cách hoàn toàn, trực diện với nó và kết thúc với nó. Bạn phải đi vào tình dục trong suy niệm, trong cảnh báo, tỉnh thức –đó là cách thức tiếp cận của Mật tông, đó là phong thái của Mật tông. Thể nhập vào đó và chứng nghiệm. Một khi bạn hiểu biết cặn kẽ một cái gì đó, có nghĩa là bạn được hoàn toàn tự do không còn vướng bận đến nó nữa. Từ kiến thức, đến hiểu biết, rồi giải phóng.” Chỉ một điều khác nhau là cuốn sách chống phá Phật giáo của Osho " Thiền , con đừơng nghịch lý " thì không bị kiểm duyệt hay Giáo hội nào đòi thu hồi . Nhưng Thầy Chân Quang thì những lọai băng giảng đi ngược với giáo lý Ngài Thích Ca thì bị đả kích và đòi thu hồi của Phật giáo . Thầy Chân Quang cho rằng kinh 48 lời nguyện của A Di Đà lúc nào cũng bắt đầu cầu :Giả sử tôi thành Phật . Giả sử tức là chưa xảy ra , chưa có kết quả ,còn đặt trong giả thuyết , vì vậy Thầy Chân Quang cho rằng đến giờ này A Di Đà vẫn chưa thành Phật , cũng như kinh Địa Tạng không có lưu truyền ở Ấn Độ , thầy nói kinh này chỉ có ở Trung Hoa phổ biến thông dụng , nghĩa là do Đại Thừa Trung Hoa đặt ra . Trong khi đó Osho còn mạnh dạn công kích Phật giáo (Đại Thừa ) mạnh hơn khi viết : "Đừng lo sợ gì cả, vì toàn bộ tiến trình giáo lý Bát Nhã Tâm Kinh sẽ giúp anh phóng thể, khai sáng cái bản ngã: cái “Tôi” đó thực không hiện hữu – chỉ cái “Tôi” đó là cái duy nhất không hiện hữu, không thực! Ngoài ra tất cả đều thực có. Có nhiều đạo sư đã nói: “Thế giới này là ảo ảnh và linh hồn mới hiện hữu – cái ‘Tôi” là thực, ngoài ra đều là ảo giác.” Đức Phật lại giảng trái ngược lại: “Cái Tôi là không thực, còn những thứ khác là thực.” Tôi đồng ý với Đức Phật về quan điểm này hơn tất cả những lập thuyết, quan niệm của những đạo sư khác…” (Osho: Bát Nhã Tâm Kinh, Việt dịch: Thích nữ Minh Tâm) Nếu dẫn chứng thì còn nhiều , tôi chỉ trích dẫn sự giảng dạy của ông Osho và Thầy Chân Quang cùng gặp nhau ở một điểm , nhằm hạ uy tín của Phật giáo như là một vấn nạn đang xảy ra . Tôi sẽ đi sâu nhằm phân tích riêng hai vị thầy này về sau . Nếu người đọc , nhất là Phật tử không có cái nhận thức sắc bén , chuyên sâu thì dễ đi đến ngộ nhận và lầm lẫn . Như tôi thường nói , khi dùng danh từ Phật giáo thì nên chỉ rõ là Phật giáo Thích Ca hay Phật giáo A Di Đà . Vì giáo lý giữa hai vị Phật này nghịch chiều nhau . Phật Thích Ca thì dạy : Độc Lập - Tinh Tấn - Tiến Lên , trong khi Phật A Di Đà , Quán Thế Âm thì dạy " Cầu nguyện danh Ngài thì đựơc cứu độ , xóa hết tội lỗi - An phận -Tiêu cực " . Giữa hai tín lý này phải nhìn thật kỷ và bằng óc trí tuệ mới nhận chân lý , lẽ phải từ nguyên thũy Thích Ca . Nếu cứ bao gồm danh từ " Phật giáo " hay " Phật " chung chung thì chân lý của Thích Ca dễ bị ngộ nhận , mà tôi sẽ phân tích sau này . ( còn tiếp ) Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |
| ||||
| Khi nói đến Mật tông tại Ấn Độ hay Tây Tạng thì có nhiều phái và thờ nhiều Thần khác nhau như :Shiva và Shakti (Mật giáo Ấn Độ) ,Vishnu ,Shiva, Shakti v.v... . Mật tông hoặc Mật giáo có gốc từ chữ Sanskrit Tantra, phiên âm Hán Việt là Ðát-đặc-la. Chữ Tantra cũng được dịch là Mật pháp và kinh sách Tantra được gọi là Mật kinh. Nguyên nghĩa của Tantra là “mở rộng, nối tiếp, kéo ra từ khung dệt, liên tục trong một thể thống nhất”. Ðây là một thuật ngữ trừu tượng, khó dịch nên trong ngôn ngữ Tây phương, hầu hết các tác giả để nguyên chữ Tantra. ![]() Shiva & Shakti (Mật giáo Ấn Độ) 1. Con đường nhơ bẩn và nguy hiểm của Vamachara: con đường tay trái. Phái này có những nghi thức bị xem là cuồng loạn hoặc phóng túng tính dục . 2. Con đường tinh sạch và thanh thoát của Dahshinnachara: con đường tay phải. Phái này có dùng những nghi lễ thanh lọc và kỷ luật tâm linh chặt chẽ, đòi hỏi sự sùng bái và tận hiến tuyệt đối cho nữ thần Shakti dưới mọi hình thức nghi lễ . Quan điểm về tình dục đựơc Osho giải thích rất rõ ràng : “Tất cả những nỗ lực của tôi ở đây là làm cho các bạn trở nên chán ngán tình dục. Bởi vì chỉ khi nào bạn chán ngán tình dục, bạn mới quay trở về lại với Thượng Đế, và không hề có chuyện ngược lại. Một người bị ẩn ức sinh lý sẽ vẫn còn quan tâm đến tình dục mãi, đó là lý do tại sao tôi chống lại sự ức chế. Có thể bạn sẽ ngạc nhiên nhưng đó là lô-gíc của tôi, sự tính toán của tôi. Một người bị ức chế sinh lý sẽ vẫn còn quan tâm đến tình dục, vẫn bị ám ảnh bởi tình dục, thế nên tôi nói rằng bạn cứ việc thanh thoả với tình dục đi và rồi ngay sau đó bạn sẽ chán, chuyện đó sẽ chấm dứt. Và khi bạn đã thanh thoả xong với nó, tình dục mất tất cả ý nghĩa của nó rồi, thì đó chính là ngày trọng đại, là giây phút lớn lao nhất trong đời bạn. Lúc đó bạn trở nên quan tâm đến Thượng Ðế, điều mà chưa bao giờ xảy ra trước đây.” Với lập luận Bởi vì chỉ khi nào bạn chán ngán tình dục, bạn mới quay trở về lại với Thượng Đế , Osho cho rằng khi con người tự do hưởng thụ dục tính thì không còn mơ ứơc , tò mò vì chuyện ái ân , ông ta cho rằng vì đầu óc còn ham muốn thì không có chỗ trống nào để Thượng Đế ngự trị . Khi chán chê , thỏa mãn không còn quan tâm đến tình dục , không bị ám ảnh và ức chế con người dễ dàng đến với Thượng Đế hơn . Osho cho đó là một điều lạ và chưa bao giờ xảy ra hay đề cập trước đây . Cho nên các tu sĩ có quyền lấy vợ như Tin Lành , tại sao Công giáo , Phật giáo lại không nghĩ đến . Trong Thánh Kinh hay giới luật nhà Phật không có điều khỏan nào bắt tu sĩ phải sống độc thân , từ đó họ không đến với Chúa , Phật vì còn bị ức chế tình dục nên thường xảy ra chuyện xâm phạm tình dục , điều mà ông Osho cho rằng lý luận của ông ta không sai . Osho chủ trương theo tình dục không giống như Phật giáo dạy phải diệt dục vì dục là nguồn gốc của khổ đau và luân hồi . Osho dành nhiều buổi thuyết giảng tình dục và viết thành một quyển sách nói về Dục , ông hết lời ca ngợi , đề cao quảng bá dục; nhất là tình yêu và tình dục . Trong tình yêu cần có dục vì đó là chất xúc tác như là một lọai keo vô hình gắn bó giữa nam nữ . Con người muốn đến Niết Bàn , Tây phương cực lạc hay Thượng Đế tối cao không gì bằng phải qua con đừơng tình dục . Ông không những hướng dẫn , chỉ bày mà còn cho là một nghệ thuật trong chuyện phòng the , làm sao sex đựơc lâu và đạt đến sung sướng tột đỉnh mà ông gọi là giáo lý phải thuộc nằm lòng : “..Nhưng người đã nghiên cứu về dục, người đã đi sâu vào nó, người đã thiền về những kinh nghiệm nhiều kiếp, đều nêu ra rằng nếu giao hợp chỉ kéo dài một phút thì con người sẽ ham muốn nó lần nữa vào ngày hôm sau, nhưng nếu nó có thể được kéo dài trong ba phút thì người đó sẽ không nghĩ về dục trong một tuần tiếp sau. Hơn nữa, họ đã quan sát rằng nếu giao hợp có thể được kéo dài trong bẩy phút thì người đó sẽ tự do khỏi dục đến mức không ý nghĩ đam mê dục nào nẩt sinh trong người đó trong ba tháng. Và nếu thời kì giao hợp có thể kéo dài ba giờ thì người đó sẽ tự do với dục mãi mãi; người đó sẽ không bao giờ ham muốn nó lần nữa! Nhưng kinh nghiệm của con người nói chung chỉ kéo dài trong một khoảnh khắc; thậm chí khó mà tưởng tượng được một thời kì ba giờ. Tuy nhiên, tôi lặp lại: nếu một người có thể vẫn còn trong tư thế giao hợp, có thể vẫn còn trong samadhi đó, trong sự chìm ngập ba giờ, thế thì chỉ một hành động giao hợp đó cũng đủ để giải phóng người đó khỏi dục cho phần còn lại trong cuộc đời mình. Nó để lại sau một kinh nghiệm mãn nguyện, một kinh nghiệm phúc lạc đến mức nó kéo dài cả đời. Sau việc giao hợp hoàn hảo đó thì không còn rào chắn để đạt tới vô dục thực sự. Thậm chí sau cả đời kinh nghiệm dục chúng ta cũng chẳng bao giờ đạt tới bất kì đâu gần cái giai đoạn tối cao đó, gần điều thiêng liêng đó. Tại sao? Người ta đạt tới tuổi già chín muồi, đi tới cuối cuộc sống của mình, nhưng người đó chưa bao giờ được tự do khỏi sự thèm khát dục, khỏi niềm đam mê giao hợp. Tại sao? Bởi vì người đó chưa bao giờ hiểu mà cũng không được bảo cho về nghệ thuật dục, về khoa học dục. Người đó chưa bao giờ xem xét nó; người đó chưa bao giờ thảo luận về nó với người đã chứng ngộ. Bạn có thể ngần ngại rằng một kinh nghiệm mà thường chỉ kéo dài một khoảnh khắc lại có thể được kéo dài trong ba giờ, cho nên tôi sẽ nêu ra cho bạn một số điểm chỉ dẫn. Nếu bạn chú ý tới chúng, thì cuộc hành trình tới vô dục sẽ trở nên đơn giản hơn. Việc thở của người ta càng nhanh, thì thời gian giao hợp càng ngắn; hơi thở người ta càng bình thản và chậm chạp thì việc đó càng kéo dài hơn. Và việc giao hợp càng kéo dài lâu, thì càng nhiều khả năng từ dục tạo ra cánh cửa tới samadhi, một kênh cho siêu tâm thức. Như tôi đã nói trước đây, việc hiểu về vô ngã, về vô thời gian, bắt đầu hé mở ra cho con người trong samadhi-dục đó. Việc thở phải rất chậm. Việc làm chậm hơi thở sẽ mở ra viễn cảnh ngày càng sâu sắc hơn của nhận thức rõ. Một điều khác cần phải nhớ trong hành động giao hợp là ở chỗ nhận biết của bạn nên được tập trung vào giữa hai con mắt, ở chỗ của agnichakra. Nếu sự chú ý được tập trung vào đó, thì thời hạn cực đỉnh có thể được kéo dài - thậm chí tới ba giờ. Và một hành động giao hợp như vậy có thể bắt rễ chắc chắn một người vào mảnh đất của vô dục - không chỉ cho kiếp sống này mà cho kiếp sống tiếp nữa..” (Osho: Từ Dục Tới Siêu Tâm Thức (Bài nói thứ 4)©Osho International Foundation) Trong những nghi lễ và thực hành Mật giáo, đòi hỏi một thực tại duy nhất, chứa đựng cả cảnh giới riêng biệt được nghĩ theo cách bình thường là thế giới vật chất, lẫn thế giới nhân sinh bao gồm thể xác và tâm linh với những khát vọng và kỳ vọng của con người . Điều này Mật giáo không dấu diếm và từ chối . Vì nghi lễ Mật giáo hàm ý chỉ có một thế giới duy nhất, toàn vẹn và tương liên nối kết, thực tại đầy cảm xúc, của tâm thức và thân xác hoà lẫn ảnh hưởng cùng bổ túc lên nhau. Đương nhiên những điều giảng trên không phải là của Phật giáo mà là của Mật Giáo Ấn Độ hay như Osho gọi chung chung là Mật tông. Cho dù Mật tông xác nhận nằm trong hệ Phật giáo . Điều này chỉ là một sự gượng ép và chấp nối kiểu " Ô dù " mượn Ngài Thích Ca để truyền đạt giáo lý Mật tông . Đức Thích ca hoàn toàn bác bỏ dục vọng của Mật tông , cũng như Ngài không dạy cầu nguyện đựơc Phước của Đại Thừa - Tịnh Độ . Đây là những móc xích gay cấn , ngoằn nghèo mà Mật tông , Đại thừa đã làm tổn hại đến truyền thống Phật giáo giải thóat của Như Lai . Ngày nay nhân lọai và giới Phật tử trí thức đang gạn lọc , phân tích , biện luận nhằm trả lại sự trong sáng chân lý của thích Ca . Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |
| ||||
| Đối với Đức Thích ca việc trở ngại làm cản trở lớn nhất của đời người là thê nhi . Vai trò phụ nữ dù ở tôn giáo nào cũng là đầu đề cho mọi tội lỗi . Tội tổ tông từ Kito giáo cũng vì bà Eva xúi Adam ăn trái cấm để hiểu biết quá nhiều , nhất là chuyện tình dục . Điều mà God cấm tuyệt đối không cho loài người nên biết . Riêng Đức Phật không cấm đóan quá khắc khe với đàn bà như God , Ngài chỉ khuyên nên đề phòng và dè dặt , tránh né khi tiếp xúc với họ . Trong giáo lý kể chuyện . Một hôm Ngài A nan mới bạch Phật rằng : -Bạch Thế Tôn ! Ra đừơng con có nên gặp phụ nữ không ? -Tốt hơn không nên gặp . -Nếu nhở gặp rồi thì sao ? -Nếu nhở gặp thì không nên nói chuyện . -Nếu con nhở nói chuyện thì sao ? -Nếu phải nói chuyện thì nên dè dặt lời nói . Cũng vì thế bà Dì của Đức Phật ba lần xin thọ giới quy y nhưng Ngài không chấp nhận , mặc dù bà có công nuôi dưỡng Đức Thích Ca từ nhỏ , sau khi hoàng hậu Ma- Da qua đời . Vì lợi ích và sự tồn vong của chánh pháp Ngài phải gạt bỏ tình riêng . Cuối cùng nhờ Anan kiên trì van xin nên Đức Phật đành chấp nhận , nhưng Ngài tiên đóan giáo lý của Ngài sẽ giảm thọ mất 500 năm vì tăng đoàn Tỳ Kheo Ni . Đức Phật là vị đại giác ngộ , nhìn xa thấy rộng nhưng cũng không thóat khỏi số mệnh và hoàn cảnh do phụ nữ đưa đến . Huống chi xét về hoàn cảnh con người nhỏ bé như tôi làm sao thóat khỏi bàn tay những yêu nữ , điều đó càng làm tôi kính trọng và tuyệt đối tin tưởng Đức Thích Ca . Ví dụ : Tôi muốn Yên một Phương để tìm lại chân lý vốn đã và đang bị pha trộn , xuyên tạc đánh phá " chân lý Thích ca " từ những đứa con của Ngài như Mật tông , Tịnh độ tông , hay ngọai đạo Bà La Môn , Hồi giáo , Osho , nhất là đạo Chúa vốn quyết tâm huỷ diệt chánh pháp của Ngài . Họ cứ theo đuôi , tìm đọc rồi viết lời dèm pha , posted những lời trêu ghẹo , châm chích nhằm gây sự chú ý của tôi về họ . Bà ta bảo ,"..... trích dẫn lời nói , câu kinh mà bảo không đựơc giống y , vì giống là copy ". Bà ta muốn tôi sửa khác đi để vào tù mới thỏa lòng nham hiểm của bà . Sự thông thái của con người trông làm sao bằng hạt cát giữa sa mạc là mừng lắm rồi . Thế mà bà tặng sự hiểu biết của tôi bằng " Hạt mít " . Tôi không vui mừng và nhận lãnh hạt mít quá lớn thế đâu . Nói cho cùng , tôi chẳng trách gì bà và trước đây có bà Tám tửng cũng theo khuấy phá , chọc ghẹo - vì họ là đàn bà . Tôi không quan tâm , óan trách mà còn tha thứ , vì tôi hiểu những phụ nữ như thế là đang bí tỷ , ức chế sinh lý lâu ngày nên lọan não , điên cuồng và thích online theo chọc ghẹo gây sự chú ý của nam giới để mong thanh thỏa , đó gọi là " Tình dục " như ông Osho đã viết : Một người bị ức chế sinh lý sẽ vẫn còn quan tâm đến tình dục, vẫn bị ám ảnh bởi tình dục, thế nên tôi nói rằng bạn cứ việc thanh thoả với tình dục đi và rồi ngay sau đó bạn sẽ chán, chuyện đó sẽ chấm dứt. - Mật giáo cho rằng loài rắn là khôn ngoan ( Kito giáo cũng cho như vậy ) , lại thông minh nếu không nói là " xảo quyệt " , vì rắn nhờ chuyện tình dục rất mạnh . Kundalini nghĩa đen là con rắn hay sức mạnh của rắn . Mật giáo cho rằng sức mạnh ấy cũng giống như con rắn cuộn mình ngủ ở đốt cuối cùng của cột xương sống con người. Khi được đánh thức bằng phương pháp quán tưởng thích đáng, nó sẽ đi ngược trở lên từ luân xa này tới luân xa khác khắp thân thể con người . Theo Mật tông giáo lý giải thích hiện tượng này cho rằng : Dọc theo thân thể, có bảy luân xa năng lượng tinh tế, đánh dấu sáu giai đoạn giải toả đi lên của sức mạnh tâm linh, và chúng được tượng trưng bằng các “bông sen” luôn luôn xoay tròn như bánh xe. 1. Luân xa thứ nhất nằm ở đốt dưới cùng của cột sống, chỉ huy cơ quan sinh dục, tượng trưng bằng bông sen đỏ 4 cánh. 2. Cái thứ hai nằm ngang bụng dưới, chỉ huy các cơ quan nội tiết và sinh sản, tượng trưng bằng bông sen đỏ như son 6 cánh. 3. Cái thứ ba nằm ngang rốn, tương ứng với hệ dinh dưỡng và tiêu hoá, tượng trưng bằng bông sen xanh 10 cánh. 4. Cái thứ tư nằm ngang vùng tim, tương ứng với hệ huyết quản, tượng trưng bằng bông sen đỏ chói 12 cánh. 5. Cái thứ năm ở lõm cuống họng, tương ứng với hệ hô hấp, tượng trưng bằng bông sen đỏ tía 16 cánh. 6. Cái thứ sáu ở giữa hai lông mày, tương ứng với hệ thần kinh phản xạ, tượng trưng bằng bông sen màu trắng 2 cánh. 7. Cái thứ bảy nằm ở đỉnh đầu – huyệt bách hội, cũng có thể hiểu là nằm ngay bên trên thân thể, tương ứng với bộ não, tượng trưng bằng bông sen ngàn cánh màu trắng, rực sáng như chớp. ( Xem hình ) ![]() Shakti Thời điểm rộ nở bông sen ngàn cánh cũng chính là thời điểm hoả hầu được giải toả trọn vẹn, tiểu vũ trụ con người hoà nhập với đại vũ trụ. Chính lúc ấy năng lượng tâm linh một khi được đánh thức, có thể triển khai tột cùng sức mạnh và ánh lộng lẫy của nó. Hành giả sẽ cảm nhận sự hoan hỉ tuyệt đỉnh, nhận thức tuyệt đối và là trí giả toàn vẹn. Do đó, sự giải toả quyền năng hoả hầu kundalini trở thành cứu cánh toàn bộ của yoga Mật giáo. -Vì sao tôi nói Đại thừa - Tịnh độ chỉ nương tựa vào " ô dù " Ngài Thích Ca , nhưng không phải là giáo lý Thích Ca ? Vì Tịnh độ tông mục đích DUY NHẤT là cầu nguyện chú trọng dựa vào đức tin và lòng từ bi cứu vớt của Phật hoàn toàn giống Kito giáo . Vì vậy đối với Phật giáo khi du nhập vào Tây phương từ thế kỷ 19- 20-21 , ban đầu người Âu Mỹ cho rằng mới lạ khi học giáo lý giải thoát của Thích Ca , nhưng sau đó Tịnh độ tông lang tràng , trà trộn vào làm cho người Tây phương chán ngán , dạy đức tin , cầu nguyện nên họ muốn trở lại với đạo chính thống của tổ tiên . Phải chăng bước đầu Tịnh độ đã bẻ gãy đôi tay nhà Phật . -Đối với Thiền tông khi tu dựa vào trí tuệ của chính mình ,dựa vào sức mình là chính , không cầu nguyện , nương tựa vào một tha lực nào khác , tự mình quán sát , tự mình từ bỏ vọng tưởng và cũng tự mình đạt ngộ đến chơn tâm . Nếu đạo Phật đựơc truyền bá theo tinh thần Thiền tông thì ít ra cũng thu hút rất mạnh giới Tây phương đang bị gò bó , tắc nghẽn về đức tin và cầu nguyện của Kito . Ngày nay , để tạo không khí mới và đồng thời nắm giữ con chiên , nhiều nhà thờ đã kết hợp thánh lễ với Thiền định của Phật giáo , điều này thu hút sự tham dự của nhiều người rất đông . Phải chi chỉ có Thiền tông lãnh nhiệm vụ truyền bá , giáo hóa thế giới chánh pháp Thích Ca qua chân lý này mà đáng ra Đại thừa - Tịnh độ đừng xen vào phá đám . -Riêng Mật tông với chủ trương dựa vào sự huyền bí của những câu thần chú và man đà -la , những bùa chú thần kỳ đầy bí hiểm , lại cổ xuý truyền dạy phương thức hành dục , thỏa mãn dục tính là đánh tang sự mơ ứơc tâm linh , nhận chân đựơc thực tại sau khi thỏa mãn , từ đó họ dễ dàng tìm đến Phật , Chúa . Quả là một điều sai lầm và chủ trương cúa nhóm người núp vào Phật , Thượng đế để đựơc tham ái , thỏa mãn tình dục cá nhân . Đối với Đức Như Lai ,dục tánh là điều mà Đức Phật hoàn toàn bác bỏ , lọai trừ vì cho đó là nguyên nhân của vô minh . Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |
| ||||
| Đối với Hoa sen là sự tượng trưng cho tinh khiết và lòng can đảm : Trong đầm gì đẹp bằng sen , Lá xanh bông trắng nhụy vàng . Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn . Nhưng Mật tông lại lấy bông sen để chỉ tượng trưng cho các huyệt đạo dục tính . Hoa sen đựơc tôn trọng là loài bông cao quý vì nó từ bùn mọc lên, được bùn nuôi dưỡng, thậm chí được dành một cọng riêng không chung với cành , lá mà vẫn đủ sức sống, hương thơm thì ngạt ngào dìu dịu tươi cười dưới gió mai . Hoa sen vẫn là biểu tượng tâm linh của Phật giáo; nhưng Phật giáo không nói gần bùn, mà nói thẳng là từ bùn sinh ra ( liên hoa xuất ư nê, như bài kệ của thiền sư Minh Lương thế kỷ 17). Tiếc thay hình tượng Hoa sen được tôn vinh theo kiểu Mật thừa là bôi nhọ trắng trợn hình ảnh cao quý của Hoa sen trong Phật giáo . Phải nói rằng : Hoa sen của Phật như là một biểu tượng giống như biểu tượng văn hóa nghệ thuật Việt Nam là cây tre, trống đồng, chiếc nón lá bài thơ xứ Huế ... Khi nói đến biểu tượng là cái gì cao đẹp , thanh khiết đại diện , tượng trưng cho một tập thể ,một ôn giáo hay một dân tộc . Bôi nhọ biểu tượng là chà đạp lên nhân phẩm và quyền độc , tự do của tập thể đó .Hơn thế nữa Hoa sen biểu hiện cho sự khai sáng và hoàn mỹ, hoa sen gắn kết với làng quê, cung đình, chùa chiền... và cũng rất gần gũi với cuộc sống của người Việt Nam , hoa sen đựơc trồng nhiều nhất ở Đồng Tháp Mười , Cà Mau " Tháp Mười đẹp nhất bông sen ". Có người hỏi tôi :" Hoa sen là hình ảnh giống thiền định chăng ? " Đó là câu hỏi hay , một sự so sánh chiếc Hoa thẳng đứng , vươn lên từ bùn nhơ đại diện như sự ô trược của tâm linh đứng vững trên một cọng sen không có sự phù trợ cành , nhánh khác , không vướn bận chung quanh . Mặc dù thiền định trong tư thế ngồi riêng biệt có ý nghĩa để giử tâm thức không loạn động . Nhưng thiền định cũng bao gồm những dao động liên tiếp để làm quen với tư tưởng tích cực bị đưa đẩy khi làn gió thỏang qua , bị sức cọ xác của những cành sen khác là giao thoa tư tưởng , việc làm trong chánh niệm tu trì . Đó là lý do tại sao thường xuyên đều đặn đọc và trì tụng thần chú - giáo lý và cầu nguyện mà Tịnh Độ , Mật giáo đưa vào trong nghi lễ Phật giáo . Thời gian và trí tuệ không đòi hỏi sự dừng lại và đưa đẩy tâm linh thay đổi chẳng khác gì giòng sông . Đây là lý do tôi suy gẩm : VÌ SAO CÓ SỰ THÊM BỚT vào kinh Phật . Cho dù nguỵ biện , che dấu hoặc đánh bóng của tri thức , các tôn giáo đều bị giòng chảy này lôi cuống , không riêng gì Phật giáo . Đối với tôi , dù là ai , ở nước nào , Thần Thánh hay vị Phật , Bồ Tát nào thì điều đó không quan trọng . Làm sao những bài kinh , câu kinh làm cho con người tiến lên về mặt tâm linh , tinh thần đựơc giải thóat trong đạt đến sự tự do , độc lập như loài sen , tất cả đó là điều tốt . Nhưng thực chất , than ôi , những điều mơ ứơc ấy có xảy ra nhưng không hoàn minh , tinh tấn , trong suốt như những đấng giác ngộ hay cá nhân " Hạt Mít " như tôi mong muốn . Mà toàn là sự thêm thắc phần nhiều mang tính cách nhằm ru ngũ , an phận , yếu đuối , thoả mãn dục tính bình thường . Tất cả đó là sự đi xuống về mặt tâm linh hơn là vươn lên để thóat khổ .Tôi không cố chấp những hình thức của nghi lễ tôn giáo , dù là tụng niệm , thiền định , Yoga hay cầu nguyện đi nữa nó phải mang một ý niệm trong sáng và tự cường như là những giọt dầu tiếp nối nhau châm vào giúp ngọn đèn trí tuệ tiếp tục bừng sáng , đó mới là giữ gìn đạo pháp và chánh pháp Như Lai . Trong kinh điển có thể là những dòng thơ bao hàm những lời khuyên vô cùng lợi ích , những bài hát vọng cổ như Nam bộ Việt Nam , Cao Đài , Hoà Hảo cùng là những điệu ngân nga là cố vấn giúp đở cho chúng ta luôn luôn chú tâm đến những người khác quan trọng hơn chính bản thân và tâm mình khi tu trì . Khi chúng ta trực diện những cảm xúc rối loạn đột phá nguy hại đến tâm thức bình an lúc tu tập , chánh niệm hay thiền định chúng ta cố gắng truyền đi những gì gọi lợi ích đến người khác trong khi làm việc dù gặp bất cứ khó khăn nào xảy ra về mặt tôn giáo : Đó là tu trì . Nếu cầu nguyện bằng tâm thức lành mạnh như thế sẽ lang rộng đến những người đọc , tụng , thiền định , yoga của họ có thể tìm thấy cảm hứng hay những truyền cảm trong tác phẩm tôn giáo sẽ mở rộng tâm thức cho bình an với trái tim nồng ấm chan hoà cho cá nhân mình và đại chúng . Cũng từ đó có thể là chìa khoá đi đến hạnh phúc miên viễn trên giòng chảy tâm linh của mọi tôn giáo , không riêng gi Phật giáo chúng ta . Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |
| ||||
| Khi đọc những giòng thiền đựơc lý luận qua Osho mang tính cách luẩn quẩn , triết lý nhằm gây hõa mù và dẫn dắt người đọc từ trạng thái này chạy sang ẩn dụ khác . Với thiền có nhiều cách , nhiều phương pháp và nhiều tông phái , nhưng dù nằm ở một vị thế tu tập nào cũng điều có mẫu số chung là tịnh tâm , nó thuộc về tâm trí nhiều hơn là nghi thức và đức tin bởi một Thần linh , Phật Thánh phò trợ . Khi thiền định , bạn cần phải có một sự cố gắng lớn nơi tâm trí , vì hơi thở không có gì đặc biệt, không lãng mạn, không phiêu lưu, hay hấp dẫn...hơi thở rất là tầm thường và bình dị gần bên ta mà đôi lúc không mấy ai quan tâm để ý . Osho cho rằng : Thiền là một tôn giáo tương lai . Trong đó thiền sẽ bắt gặp các Thần Thánh , và cả Thượng đế . Vì vậy ông cho rằng : Nhật Bản có một từ ngữ đặc biệt để diễn tả điều này. Họ gọi đó là konomama hay sonomama –“Cái Ðây là” của hiện hữu. Một chữ Ðây viết hoa- không là cái gì khác. Chính cái như thị này của đời sống mới là Thượng Ðế, không là cái gì khác. Chính cái như thị trong khoảnh khắc này đây mới thánh hóa, thiêng liêng: cái như thị của một cành cây, cái như thị của một hòn đá, cái như thị của một người nam, cái như thị của một người nữ, cái như thị của một đứa trẻ. Và cái như thị đó không hề được định nghĩa, không thể được định nghĩa. Bạn có thể tan biến vào đó, thể nhập vào đó, nếm được hương vị của nó. “Thật là tuyệt vời! Thật là mầu nhiệm!” Vâng, bạn không thể định nghĩa được nó, không thể phân tích nó một cách luận lý, không thể đóng khung nó vào một ý niệm dứt khoát, rõ ràng. Nó sẽ bị giết chết bởi ý niệm. Nó sẽ không còn là như thị nữa mà là một sản phẩm cấu trúc của tâm. Cái danh từ “Thượng Ðế” không phải là Thượng Ðế, cái ý niệm về Thượng Ðế không phải là Thượng Ðế.Cũng vậy ý niệm về “tình yêu” không phải là tình yêu, ý niệm về “thực phẩm” không phải là thực phẩm. Thiền đã nói ra điều này một cách rất đơn giản: Hãy nên nhớ rằng thực đơn không phải là món ăn. Bạn đừng có xơi luôn thực đơn nhé. Nhưng đó là điều mà người ta đã làm hàng bao thế kỷ qua: xơi luôn cả thực đơn ! Đối với thiền Minh Sát , ta không cần phải chọn những đề mục đặc biệt để tập chú tâm như hơi thở vào ra , hoặc đôi lúc phải hòa nhập với chúng như một thực thể . Chúng ta chỉ cần nhìn, quan sát để hiểu rõ sự vật như nó là chính nó . Khi nào ta thấy rõ sự vật như nó là thì bạn sẽ thấy những cảm xúc thật là vô thường. Mọi thứ mà ta thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ mó ; tất cả những khái niệm về trừu tượng... những cảm giác của bạn, ký ức hay ý nghĩ đang trên đà thay đổi, và tâm tưởng của bạn cũng vì thế mà đổi thay... Chúng xuất hiện một lúc rồi chúng biến mất như những ảo giác không tưởng . Đó là một sự đuổi bắt mà Osho cho là một cái vòng " luẩn quẩn " về sự tái tạo rồi biến mất từ cái hạt thành mầm giống thành cây sanh ra hạt rồi trở lại mầm giống . Chính tâm thức bạn lúc thiền định nó cũng xoay vòng như thế . Ðây không phải là một triết lý hay một sự tin tưởng có tính cách Phật học, mà đây là thấy được Vô thường theo Đức Phật đã nhận định , nghĩa là mọi tạo vật đều đổi thay từng sát na và không bao giờ đứng yên một chỗ như con gà ra cái trứng và cái trứng trở lại con gà ........Điều mà Osho gọi sự luẩn quân này là "tiến trình cái vòng luẩn quẩn" mà ông ta cố lý luận để bác bỏ : Cái tiến trình “nói về” này chính là thần học. Cái “nói về” này dẫn ta đi lòng vòng, chẳng bao giờ đưa ta đến cái đích thực. Ðây là cái vòng luẩn quẩn. Luận lý chỉ là cái vòng lẩn quẩn. Và Thiền chính là những nỗ lực nhằm đưa ta thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn đó. Trong đời sống của chúng ta được dựa trên sự phán đoán sai lầm vì chúng ta không hiểu cũng như không chịu tìm tòi sự thật và không dám đối diện khi sự thật đưa đến . Tâm lý chúng ta muốn sống trong ảo giác và muốn tìm sự an ủi , nương tựa vào Thần linh hơn là chính bản thân ta .Trái lại đối với một người không tỉnh thức , cuộc sống dường như lúc nào cũng chán chường, lộn xộn, nhất là lúc mà những thất bại hay đau buồn , tuyệt vọng xảy đến. Như vậy, người đó dễ bị khủng hoảng thần kinh, vì họ đã không quan sát được sự vật bằng tiềm thức của chính họ . Vậy thì điều Osho cho rằng "Thiền là vô niệm và vô trí -không hề là sản phẩm của ý niệm, và trí tuệ " có đúng không ? Đối với Phật giáo không hẳn chấp nhận như thế . Trí tuệ luôn luôn dẫn dắt hành động , kể cả lúc bạn đi vào thiền định . Khi chúng ta quan sát thân thể như nó là một vật thể . Thân thể là thuộc về thiên nhiên, cơ thể con người thuộc về đất, nó cần được nuôi dưỡng bằng những thức ăn từ mặt đất. Bạn không thể sống bằng không khí hoặc thử nhập cãng thực phẩm từ hành tinh nào khác . Bạn cần phải ăn những thức ăn được nuôi dưỡng và lớn lên từ trái đất nầy. Khi mà cơ thể hư hoại, nó trở về cát bụi, nó hư thối, mục rửa và trở nên một với đất , đó là bản chất cấu tạo con người do ĐẤT - NƯỚC - GIÓ - LỮA mà Đức Thích Ca đã giảng . Nó chỉ theo chu trình tự nhiên của sinh và diệt, của thành và hoại : Đó là VÔ THƯỜNG . Tất cả những gì sanh ra sẽ lớn lên, già đi và rồi chết : Đó là VÔ THƯỜNG . Tất cả mọi thứ trong thiên nhiên cho đến vũ trụ, cũng có thời hạn của chúng; sanh rồi chết, bắt đầu và kết thúc như một vòng tròn bất di bất dịch không lọai trừ một ai . Tất cả những gì chúng ta nhận thấy và có khái niệm đều trên đà thay đổi; chúng vô thường, vì thế không có gì có thể là trường tồn vĩnh cữu , bất biến . Osho không tán đồng chân lý vô thường của Đức Phật , ông bác bỏ những lý thuyết , Thần học chỉ là những võ bọc giam hảm con người không thóat ra để trưởng thành : Thế nhưng con người bị bao quanh bởi thần học. Những lý thuyết thần học này giữ họ mãi trong tình trạng ấu trỉ, không cho phép họ trưởng thành. Bạn không thể nào trưởng thành được khi bị giam hảm ở trong hàng rào thần học, khoác lên người chiếc áo Ky tô hữu, hay Ấn Ðộ giáo, hay Hồi giáo, và ngay cả Phật tử. Bạn không thể trưởng thành. Bạn không đủ chỗ để lớn dậy. Bạn bị giam hảm quá kỹ, trong một không gian nhỏ hẹp; bạn đang bị bỏ tù. Điều này có đúng không ? Tôi thấy Osho đã từ bỏ và không nhận ra bản lai diện mục của ông là ai ? Từ đâu đến ? Và đi về đâu ? Đọc những gì ông viết dễ đưa đến sức cuốn hút của những cơn lốc bão ngôn từ và lý luận , nhưng bình thản nhận chân cũng giống như chúng ta lạc vào một hang động loanh quanh cũng chẳng có gì mới lạ trong tư tưởng của Osho . Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |
| ||||
| Nhiều người đang hô hào thiền , quảng cáo thiền như một vị lương y tài giỏi . Vì nó sẽ là thầy thuốc chữa bệnh đau đầu , sổ mũi , nhức nhối từ thân xác đến tinh thần , có thể đựơc chăng ? Trong cuộc sống của ta thường mong muốn được như ý từ những cảm thọ thì sự thỏa mãn nầy chỉ ngắn hạn, dù hạnh phúc, cũng chỉ trong giây phút vì nó cũng thay đổi. Cảm thọ luôn đổi thay và si mê, thiếu hiểu biết, nên chúng ta hay đòi hỏi quá đáng nơi những cảm thọ. Chúng ta hay hy vọng, đòi hỏi, tạo ra đủ mọi thứ để rồi sau đó cảm thấy thất vọng, chán chường, hối tiếc, với nỗi thống khổ già, bệnh, chết. Từ đó chúng ta thường tìm về chỗ nương tựa tâm linh , không ai khác hơn là Thượng đế , Thánh thần . Họ là ai không cần biết , nó chỉ là trừu tượng hay hiện hữu , nhưng khi đến với họ chúng ta cảm thấy an lạc hơn . Điều này không hoàn toàn đúng tuyệt đối , theo nhà văn hào Jean Paul Sarte định nghĩa về cảm tưởng , thiên đừơng của ông ta : "Âm hộ là một hố sâu thâm thấm và ươn ứơt mà nơi đó ta tìm ra Thượng đế ". Đó cũng là quan niệm hành thiền của ông ta . Đó cũng là ý thức của cảm thọ. Tư tưởng có thể suy nghĩ một cách trừu tượng, có thể tạo ra đủ thứ ý kiến và hình ảnh, có thể làm cho mọi vật trở nên xinh đẹp hay xấu xí , dơ bẩn , nó đựơc diễn biến tuỳ theo cảm thọ bất biến và thay đổi . Nó có thể đi từ một trạng thái đẹp đầy mơ mộng , hạnh phúc tới đau đớn ê chề , khổ sở : Con đừơng sẽ đi từ thiên đàng đến địa ngục chỉ là gang tấc trong tầm tay . Nhưng không có thiên đàng hay địa ngục thường trực, bởi vì tất cả đều là vô thường theo nguyên lý nhà Phật . Mọi vật sẽ đổi thay và xoay vòng trong không gian lẫn thời gian không cố định . Tất cả là quan niệm của bạn và mọi người nhìn về thiền . Nó có thể là đẹp tuyệt vời , cũng là khổ đau vô hạng . Nó là của bạn theo quan niệm của Osho , nó hiện hữu và sẵn sàng đối diện khi bạn cần đến nếu bạn tĩnh lặng để Thượng Ðế cùng rung động, cùng chung một nhịp đập với trái tim bạn . Nói vậy , bạn đang thổn thức vì đau khổ , nghẹn ngào trong giòng nước mắt của tức tối , oan khiên thì vấn đề này bạn có cùng Thượng Ðế rung động, cùng chung một nhịp đập với trái tim bạn hay không ? Câu này tôi muốn hỏi và đặt vấn đề với Osho khi ông viết : Thật là tuyệt. Vâng, bạn không thể chiếm hữu nó, nhưng cũng không thể nào làm mất được nó. Nó ở đó. Nó luôn có mặt ở đó. Nếu bạn tĩnh lặng, bạn sẽ bắt đầu cảm thấy nó. Bạn phải hòa điệu cùng nó. Bạn phải trở nên tĩnh lặng để có thể lắng nghe. Bạn phải trở nên tĩnh lặng để vũ điệu của Thượng Ðế có thể đi sâu vào lòng, để Thượng Ðế cùng rung động, cùng chung một nhịp đập với trái tim bạn. Bạn phải liệng bỏ cái tật vội vàng, cái tật hối hả, cả cái tâm viên ý mã, muốn đạt đến cái này, trở thành cái nọ, lúc thế này, lúc thế kia. Hãy chấm dứt, đừng trở nên một cái gì cả. Và thế là nó ở đó, bạn không bao giờ có thể mất nó. Cái gì không thể lấy, bạn sẽ được. Cái gì không thể lấy, bạn sẽ được. Ngay từ khoảnh khắc hiểu được rằng bạn không thể nào chiếm hữu được nó, bạn liệng bỏ cái ý hướng chiếm hữu, thế là nó có mặt ở đó -và bạn được nó. Ngay từ khoảnh khắc bạn hiểu được rằng tình yêu không thể được chiếm hữu, một mối cảm thông sâu sắc òa vỡ trong bạn. Và bây giờ bạn sẽ có nó, vĩnh viễn. Bạn không bao giờ mất. Tuy nhiên bạn chỉ sở hữu được nó khi nào bạn nhận ra một điều rằng nó không thể nào bị chiếm hữu, rằng không có cách gì bạn sẽ chiếm được nó. Ðây là nghịch lý của Thiền. Thiền là con đường của nghịch lý. Nó nói rằng nếu bạn muốn chiếm hữu Thượng Ðế, xin làm ơn bỏ ý nghĩ đó đi -và rồi bạn có Thượng Ðế. Nếu bạn muốn chiếm hữu tình yêu, đừng làm thế, và tình yêu sẽ có mặt, sẽ mãi là của bạn. Bạn không thể đánh mất nó; không cách gì mất được nó. Ý tưởng của Osho "Cái gì không thể lấy, bạn sẽ được." Lấy cái gì và đựơc cái gì , điều này ông ta bỏ lững , ởm ờ theo lối đi hàng hai . Ðối với Tantra " Không có sự sợ hãi " hay nói một cách khác : “ Sự sợ hãi không tồn tại trong Tantra ” . Sự sợ hãi chỉ tồn tại trong bản ngã , bản ngã chính là môi trường hoàn toàn thích hợp sẽ hoá thành sự sợ hãi và cũng chính là nơi trú ẩn tốt nhất , an toàn nhất cho nó . Ví dụ : Bạn mất sự sợ hãi thì bạn sẽ có sự sợ hãi khác chăng ? Điều này chưa hẳn là đúng như điều Osho khẳng định . Khi thiền bạn còn tồn tại bản ngã nhưng bị tiêu diệt lại chính là Tính dục . Tính dục cần bản ngã để tồn tại - Bản ngã cần tính dục để thỏa mãn và chính bản ngã làm tâm trí bạn tuởng rằng mình hoàn toàn bình thường nhưng mất đi dục tính khi thiền , sự thật không phải vậy , nó vẫn còn tiềm ẩn trong thân thể bạn khi mà tri thức " tịnh" , nó sẽ hiển hiện trở lại khi tâm bạn " động " và đòi hỏi dục tính , vốn là bản năng sinh tồn của con người và động vật . Vì vậy nếu cho rằng “ Khi tâm trí bị mất bình thường cho chúng ta cảm thấy mình bình thường ” như là một ảo giác của tri thức vậy . Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |
| ||||
| Lời nói thêm : Lâu nay tôi bận rất nhiều chuyện , nên bài " Chân lý Thích Ca " phải gián đọan . Trong quá trình đang nhận định hai hiện tượng về ông Osho và Thầy Chân Quang , nay tôi tạm dừng ở đây để tiếp tục phân tích và nhận định về hai bậc tu hành trí thức là Đại lão HT Thích Thanh Từ - Đại lão Thiền sư Thích Nhất Hạnh , có hai nhận thức về đừơng lối tu hành Tịnh độ ( Thanh Từ ) và Thiền định ( Nhất Hạnh ) , những điểm tương đồng , gặp nhau khi giác ngộ . Mặc dầu quý Ngài có những phân tích mang âm hưởng cách mạng , dám nhìn lại ( xét lại ) phương pháp tu niệm Phật có những sai lầm khi cầu nguyện nhằm mang lợi ích cho bản thân mà quên rằng tất cả mọi pháp đều nhắm đưa tâm thanh tịnh để giải thóat , ngụ ý muốn tìm lại giáo pháp chân lý Thích ca . Cả hai thầy tuy có cái nhìn thêm bớt trong Tịnh độ , nhưng không dám nói thẳng như cá nhân tôi là cư sĩ phàm tục mà không sợ Giáo Hội lên án , tẩy chay như Thầy Chân Quang , Osho . Trong bài pháp của HT Thích Nhất Hạnh mà tôi trích một phần của bài giảng Kinh A Di Ðà trong khóa tu mùa thu 1998 tại đạo tràng Mai thôn , đề tài "Diệu Dụng Pháp Thân " . HT Thích Thanh Từ giảng "Đới nghiệp vãng sanh " Giảng tại chùa Tam Bảo - Hà Tiên mới đây . Tôi cũng thiết tha yêu cầu các bạn nếu muốn tham luận đề tài này thì phải viết thành bài có lý luận mạch lạc , văn từ nghiêm chỉnh . Thay vì chỉ viết vài giòng bâng quơ , lạc đề và nhất là chụp mũ VC ...... làm mất vẽ trang nghiêm của chủ đề Phật giáo . Lời yêu cầu của tôi có lợi ích vì các trang Yahoo , Google sẽ trích làm tài liệu tham khảo cho độc giả . Nếu trang web nào viết nghiêm chỉnh , không có đối thọai hồ đồ sẽ đựơc chọn . Các bạn thử vào Yahoo và tìm bài " Chân Lý Thích Ca " thì họ sẽ chọn bài của forvn.com chứ không save bài này tôi viết ở trang net khác bị reply lạc đề , châm biếm , phá rối . Mong các bạn hiểu biết và thông cảm hợp tác cùng tôi . HoaSen Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |










Linear Mode