| ||||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
| Có bạn nôn nóng khi nghe tôi đề cập và phê phán Đại thừa thì muốn nhào vô chửi bới , để hiểu rõ thế nào gọi là Đại thừa , Tiểu thừa tôi phải lùi lại một bước để nói rõ hơn. Thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế không có chỗ nào gọi là Trưởng lão bộ (Theravàda) hay Đại thừa (Mahàyana). Chỉ sau khi Ngài tịch diệt 100 năm trong lúc họp các tăng ni cần thay đổi một số giới luật nhỏ. Một số tỳ kheo chính thống bảo rằng không có điều giới luật gì cần phải thay đổi trong khi những tăng sĩ trẽ khác cứ nhất định sữa đổi một số ít giới luật. Cuối cùng một số tỳ kheo rời bỏ đại hội và thành lập Đại chúng bộ (Mahasanghika). Mặc dù gọi là Đại chúng bộ không có nghĩa là Đại thừa (Mahayana) trong lúc này . Sau đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba, con trai vua Asoka, ngài Mahinda, mang Tam Tạng đến Tích Lan cùng với các Chú Giải đã được đại hội thứ ba trùng tuyên lại. Những kinh điển mang đến Tích Lan được bảo quản cho đến ngày hôm nay mà không có mất mát một trang nào. Kinh điển được viết bằng tiếng Pàli, dựa vào ngôn ngữ Ma-kiệt-đà (Magadhi) do Đức Phật thuyết giảng. Không có điều gì gọi là Đại thừa ở thời điểm đó. Khoảng thế kỷ thứ II sau công nguyên, chữ ĐẠI THỪA dần dần công khai ra mặt và được định nghĩa rõ ràng hơn. Ngài Long Mãng (Nagarjuna) ( Người Trung Hoa ) phát huy triết học Đại thừa về tánh Không và trong một bản kinh nhỏ được người ta gọi là Trung luận thuyết (Madhyamika-karika, còn gọi là Trung quán luận) chứng minh rằng vạn pháp đều rỗng không. Khoảng thế kỷ thứ IV, Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu )( cũng người Trung Hoa ) sáng tác một số tác phẩm về kinh điển Đại thừa. Sau thế kỷ thứ I sau công nguyên, những nhà Đại thừa bắt đầu tạo một lập trường rõ ràng, và từ đó, họ đưa vào các danh xưng ĐẠI THỪA - TIỂU THỪA . Điều mà chúng ta lưu ý rằng :Phật giáo Trưởng lão bộ truyền đến Tích Lan vào thế kỹ thứ III trước công nguyên, khi đó không có danh từ Đại thừa nào cả. Chứng tỏ rằng Đại thừa do Trung Hoa sáng lập ra. Đại thừa cũng là Tịnh độ tông chuyên về cầu nguyện và nhào nặn ra những vị Phật người Hoa , từ trên chín từng mây cùng hàng trăm vị Phật chẳng biết gốc tích ở đâu bên Tàu , giáo lý các Phật Hoa dạy gì , điều này tôi sẽ dẫn chứng về sau. Về giáo lý , kinh điển thì Đại thừa trà trộn , thêm bớt vào kinh Phật Thích Ca ,những điều khác nhau giữa đạo Phật Nguyên thủy và đạo Phật Đại thừa là giữa Tự lập và Cầu nguyện , tuy nhiên về mặt giáo lý căn bản thì thống nhất cùng những quan điểm sau : - Cả hai đều chấp nhận Đức Phật Thích Ca là bậc đạo sư. -Tứ Thánh Đế trong cả hai trường phái đều giống nhau. -Bát Chánh Đạo trong cả hai trường phái thì cũng tương tự . -Lý Duyên Khởi trong cả hai trường phái đều giống nhau. -Cả hai đều không chấp nhận tư tưởng về thượng đế tạo ra thế gian này. -Cả hai đều chấp nhận Tam tướng (Khổ, Vô thường, Vô ngã) và Tam vô lậu học (Giới, Định, Huệ) , không có bất kỳ sự khác biệt nào. Người Hoa thường tự hào , Đại thừa tức là cổ xe lớn , Tiểu thừa chỉ là cổ xe nhỏ. Vậy thì còn Đại thừa đâu nữa mà bảo chỉ nói Đại thừa chung chung??? Vì Đại thừa do những cao tăng người Hoa sáng tác , dịch thuật và thêm bớt khi dịch kinh Phật từ tiếng Pali sang Hán văn . Vì vậy trong kinh Phật Đại thừa đầy rẫy nhưng chữ vay mượn từ Phạn Ngữ (gồm cả 2 thứ: sancrit (văn ngữ Bắc Phạn) và Pali (văn ngữ Nam Phạn) trộn lẫn với tiếng Hán khiến cho câu kinh trở nên tối tăm, lù mù chẳng khác ngọn đèn dầu ánh sáng yếu ớt, vàng vọt luôn lung lay bất định như kinh văn Phật giáo hiện hành. Người Việt chịu sự đô hộ 1000 năm mới dành được độc lập , cũng do người Hán mượn Phật giáo Đại thừa dạy cúi đầu cầu nguyện , làm mất hết ý chí đề kháng dành độc lập. Nếu kinh Thích Ca được lưu truyền thì người Hoa khó mà đô hộ Việt Nam lâu đến thế.Thời gian 1000 năm nô lệ , người Việt bị nhồi sọ bằng kinh Đại thừa - Tịnh độ và đã sanh sôi nảy nở ra không biết bao nhiêu cao tăng Việt chịu ảnh hưởng sâu rộng chịu nô lệ do Đại thừa - Tịnh độ đào tạo nên. Ngày nay muốn thoát khỏi vòng nô lệ tâm linh ấy phải có một sức tranh đấu bền bỉ và phải nhờ khai sáng trí tuệ con người mới mong giải phóng ách nô lệ này khỏi tay người Hoa , cũng giống như người Âu - Mỹ đã bị Kito giáo nô lệ như vậy. Sau khi Đức Phật đã qua đời , đạo Phật được du nhập vào Việt Nam cho đến giờ phút này, giới thầy chùa, đặc biệt là VIỆT NAM đã mang nặng nghiệp chướng nhìn ra là tu hành giả mạo , mang nặng tính cách PHẢN PHẬT đồng thời trắng trợn HỦY HOẠI PHẬT bằng giáo lý cầu nguyện của Đại thừa - Tịnh độ. Trong các giới tăng ni đã đua nhau biến cải đặc tính VÔ THẦN nguyên thủy của Phật thành HỮU THẦN và ĐA THẦN , biến cải tinh thần khoa học thực nghiệm của Phật thành cuồng tín, dị đoan ngu muội, (cúng kiếng, bói toán, xem ngày giờ tốt xấu, phương hướng, phong thủy, cầu siêu, vớt vong, làm đám cưới trong chùa rập khuôn Kito giáo ...), biến mục tiêu bố thí thành ra trấn lột dã man , lợi dụng quyên góp từ thiện để bớt xén , biến cửa chùa thành hắc điếm,quyền uy và lạy lục , biến chủ trương xuất thế của Phật thành nhập thế để lập băng đảng làm chính trị như GHPGVNTN , GHPGVN ngày nay. Tự phong , tự đặt định ngôi thứ như Giáo chủ Khất sĩ Tăng già Thế giới , Tổng thư ký Viện Hóa Đạo II Thế giới ...... Tự phong cấp bực để phân biệt kẻ nọ với người kia, từ đại lão đến tiểu lão , Tăng Thống với Ni Thống , Vô Thượng Sư đến Hữu Thượng Sư , Cố Phật với Bà Phật và đua chen nhau tranh dành chức vị thế tục, thu nhập quyền lợi vật chất một cách bẩn thỉu. Cuối cùng các giới tăng ni này còn biến đạo Phật thành một thứ đạo CỨU RỖI như Kito , ai cầu nguyện A Di Đà ngày đêm không ngừng nghĩ sẽ được cứu về cõi TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC mà đến nay tôi dám thách thức bất cứ một cao tăng nào chỉ cho tôi cõi ấy ở đâu , như tôi muốn biết thành Ca Tỳ La Vệ của Ngài Thích ca thì được chỉ dẫn rõ ràng và tôi đã mua vé may bay đến tham quan ở nơi Đức Phật ra đời tại đó.Quý vị nào chỉ cho tôi nước Tây phương Tịnh độ tôi cũng mua vé bay đến đó để chiêm ngưỡng ngay , hoàn toàn không ai dám chỉ cõi A Di Đà cho chúng sanh biết và đến. Những ngôn từ cứu nhân độ thế chỉ là lừa bịp của những tăng sĩ Đại thừa - Tịnh độ tông mục đích để kiếm miếng ăn bất chính và phát triễn , tồn tại trên sự lừa dối. Điều quan trọng là GIẾT giáo lý chân chánh của Thích Ca một cách cố ý hay vô tình . Tôi dám cam đoan rằng chính bản các tăng sĩ còn chưa tự cứu độ được thì cứu độ ai . Hằng ngày họ vẫn còn đang kiêu căng, mù quáng lặn ngụp trong vũng bùn gồm đủ mọi thứ tham dục bẩn thỉu chưa hề tỉnh ngộ. Họ chỉ dựa vào Như Lai để tồn tại và phát triễn trên xương máu , mồ hôi ngay chính của Phật tử mình , giống như những côn trùng ăn những côn trùng khác để sanh tồn. Tôi đố quý vị nào chỉ cho tôi một Tăng , Ni Đại Thừa nào ốm nhóm ốm nhách thử xem , nhất là Tăng Ni hải ngoại. Con bài cầu siêu cầu an và cứu độ là ngón nghề béo bở nhất của tăng Ni. -Cầu siêu , cầu an : Dù cầu gì cũng phải có thủ tục ĐẦU TIÊN ( giống như nhập cửa khẩu VN ). Dù bất cứ đám ma , đám cúng giỗ nào, và bất cứ một vụ thiên tai, thảm hoạ bão lụt nào xảy ra, các Phật tử cũng rước thầy chùa đến làm lễ cầu siêu, cầu an tưng bừng, chuông mõ phèng la ỏm tỏi. Sau vài giờ múa may tụng niệm khổ chủ phải móc túi chi tiền méo mặt. Nhiều khi trả tiền không vừa ý, quí thầy cô còn dỗi hờn vùng vằng ném tiền trả lại. Thầy còn dọa tiền nào của đó , tiền nhiều thì cúng cho ông bà phước nhiều , mau về cõi tịnh độ , đầu thai sung sướng giàu có hơn....... -Cứu độ : Lúc nào quý thầy giảng pháp cũng nói : Tu hành mục đích nhằm để cứu độ chúng sanh. Nhưng bản thân Viện chủ vẫn chết đau thương oằn oại, kéo dài hàng nửa năm trời khủng khiếp trên giường bệnh của đại lão HT Thích Huyền Vi, chủ nhân nhóm Linh Sơn. Thầy nằm liệt giường như một cái xác chết chưa chôn, ỉa đái vung vãi tại chỗ. Mắt mở, tai nghe, nhưng mồm không nói được ú ớ như đang bị ma đòi nợ. Còn những vị cao tăng khác như Thích Mãn Giác cũng quằn quoại trên giường bệnh trước khi chết mà các cao tăng khác không ra tay cứu độ cho về thiên đàng đi? Vậy thì thân tôi đòi như Phật tử làm sao được cứu độ đây? Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |
| ||||
| Các cao tăng , Phật tử có nghe , thấy giới trí thức tây phương đang lên án , chửi bới Phật giáo không ? Bằng chứng ông ROGER-POL DROIT trong bài "Phật giáo và hư vô chủ nghĩa " cho rằng : Giờ thì chúng ta hoàn toàn quên lãng nỗi khiếp sợ xưa cũ này rồi. Tuy thế, ta tìm thấy nhiều chỉ dấu khác biệt về nỗi sợ hãi đó ở các triết gia Đức – Hegel, Schelling, Schopenhauer, Nietzsche và những người khác. Nó cũng để lại dấu vết nơi những người Pháp, từ Cousin cho đến Renouvier, xuyên qua Quinet, Taine, và Renan. Nói chung, dù hơn dù kém, họ đã đặt Niết bàn gần với hư vô, đã xem Phật Giáo như một thứ hư vô chủ nghĩa, đã gắn liền Phật Giáo với chủ nghĩa yếm thế. Có thể trưng dẫn hàng trăm thí dụ. Hégel, trong những phiên bản năm 1827 và năm 1830 của tác phẩm “Encyclopédie” (Bách khoa), trình bày ở đoạn 87: “Hư vômà những người theo đạo Phật tôn làm nguyên tắc của mọi sự, là mục đích tối hậu và cứu cánh tối hậu của mọi sự.” Trong “Lecons sur la philosophie de la religion,” ông giải thích rằng, đối với Phật Giáo, “con người phải tự biến thành hư vô”, thừa nhận “sự bình an vĩnh cửu của hư vô”. Tiếp đó, những triết gia xem thứ lý thuyết được truyền giảng bởi một người mà Edgar Quinet đặt tên là “Vị Chúa vĩ đại của cái không” (Le grand Christ du vide) là một thứ “chủ nghĩa cuồng tín hư vô”[1]. Riêng Ernest Renan thì kết luận rằng thứ tôn giáo không thể nhận thức được này “gán cho đời sống một mục tiêu tối cao là hư vô,” cái “bộ máy tạo khoảng trống trong tâm linh” này là chỉ dấu rằng có sự hiện hữu của một “giáo hội của hư vô chủ nghĩa” Thật là oan cho Ngài Thích Ca chúng tôi lắm ông ROGER-POL DROIT ơi , cái HƯ VÔ hay TÁNH KHÔNG ( Rỗng không ) là do các ông Trung Hoa viết ra trong Đại Thừa - Tịnh độ rồi quảng cáo là giáo lý Phật giáo , Ngài Thích Ca không nói chuyện Hư Vô , Tánh không nào đâu mà ông lên án , phê phán . Bởi các ông cứ nghiên cứu kinh Đại thừa chữ Hán mà hiểu là Phật giáo Thích ca thì hố to , cái phá nát , đại họa là do những cao tăng người Hoa sáng tác thêm quá nhiều trong kinh điển rồi gán là của Thích Ca . Ông hảy qua Tích Lan đọc những bản kinh gốc chữ Pali lưu còn trữ bên đó , đừng đọc kinh Phật bằng chữ Hán do Trung Hoa dịch ra đi sai giáo lý Ngài Cồ Đàm và ông nhớ dùm con Ngài Long Mãng (Nagarjuna) là ( Người Trung Hoa ) , tôi trích lại cho ông đọc nhé : Ngài Long Mãng (Nagarjuna) ( Người Trung Hoa ) phát huy triết học Đại thừa về tánh Không và trong một bản kinh nhỏ được người ta gọi là Trung luận thuyết (Madhyamika-karika, còn gọi là Trung quán luận) chứng minh rằng vạn pháp đều "RỖNG KHÔNG ".. Các ông Tây bà đầm phải hiểu rằng khi giải minh theo xu hướng hư vô không tận như ROGER-POL DROIT ,Hegel, Schelling, Schopenhauer, Nietzsche ...... chỉ có tánh cách hời hợt , một chiều . Tánh Không thường bị phê phán như là một thứ triết lý mông lung không hơn, không kém theo các ông hiểu là một sự biến thái ý nghĩa Phật giáo qua đầu óc Kito mà các ông tôn thờ từ lâu . Cũng không trách khi các ông thấy giáo lý Phật giáo cũng cầu nguyện , cứu rỗi ..... như đạo God , vì các ông đọc kinh Phật của Đại thừa - Tịnh độ nó sai trái và đi ngược , phản lại giáo lý gốc của Thích Ca là TỰ GIẢI THÓAT khổ đau , Niết bàn là ở đây , là TÂM của bạn chứ không hứa hảo huyền như thiên đàng , tây phương cực lạc nào đâu . Các cao tăng , Phật tử Đại thừa đọc đến đây đã thấy một sự tác hại , phá nát đạo Phật của Đại thừa chưa ? Còn nhiều bằng chứng mà tôi sẽ chỉ dẫn hầu giúp quý vị thấy rõ , chứ không HỒ ĐỒ như ông TC chỉ quote một đọan của tôi mà không lý luận đựơc câu nào , rồi cho đó "để cho thấy tác giả tự vả mồm mình như thế nào " . Trình độ Phật học như vậy cũng đòi lên tiếng dạy đời . Về Tánh không , hư vô thầy Thích Tâm Thiện tạm giải thích thế này : Tánh Không tiếng Phạn gọi là Sùnyatà. Đây là một từ hợp biến của hai âm : sùnya và tà. Sùnya có nghĩa là không, là rỗng; tà là tiếp vĩ ngữ (tiếng hợp âm để biến thành danh từ) . Theo ngữ căn, thì từ sùnya được phát sinh từ động từ svi, có nghĩa là phồng lên, sưng lên…Ở đây, hễ cái gì phồng lên bên ngoài–như bong bóng chẳng hạn- thì bên trong nó bao giờ cũng rỗng không. Do đó, sùnyatà được hiểu như là tính cách của trương độ (sự phồng lên) nó luôn luôn bao gồm hai mặt : bên trong và bên ngoài; hễ bên ngoài phồng lên thì bên trong rỗng. Tuy nhiên, có lẽ do một lý do nào đó, hoặc không có sự tương đương trong ngôn ngữ phương Tây, nên sùnyatà thường được dịch chỉ có một chiều- đó là sự rỗng không. Như trong tiếng Anh, sùnya được dịch là empty hay void, và tà được dịch là ness, kết hợp giữa hai từ này (sùnya + tà= sùnyatà) sùnyatà được dịch là emptiness, voidness, hay nothingness … Và tất cả những từ trên đều có nghĩa là sự trống không, sự rỗng tuếch, sự không có gì cả… Tuy đó chỉ là một lối giải thích tương đối , nhưng cũng không mang lại giá trị chân lý của Ngài Thích Ca . Vì theo Ngài " Vạn Pháp đều là Không " , vậy thì phình ngoài rỗng trong mà làm gì ? Đã là Không dù bằng hình thức nào vạn lý cũng là Không . Phật Giáo như một thứ hư vô chủ nghĩa, đã gắn liền Phật Giáo với chủ nghĩa yếm thế. là Phật giáo ĐẠI THỪA - TỊNH ĐỘ đội lốt và MẠO NHẬN trùm lên đầu cho giáo lý Thích Ca . Ngài Cồ Đàm bi quan , yếm thế thì làm gì có chuyện từ bỏ danh vọng , giàu sang để xuất gia tìm đừơng cứu khổ , yếm thế thì làm gì sau 49 năm lăng xã vào đời giáo huấn chúng sanh và trước giờ nhập diệt Ngài còn dạy các đệ tử : -"Các ngươi hãy lấy Giới luật làm Thầy" (Vinayo Sasanassa Ayu – The Rule is the Life of the Teaching). - "Các ngươi hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, ta chỉ là Người chỉ đường." - Các con hãy tinh tấn TIẾN LÊN để tìm đừơng giải thóat . Vậy thì các ông Tây bà đầm có lên án Phật giáo là BI QUAN - YẾM THẾ thì vui lòng móc thêm vài chữ : Phật giáo Đại thừa - Tịnh độ dạy BI QUAN - YẾM THẾ để khỏi lầm lẫn là Phật giáo Thích ca . Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |
| ||||
| Tình trạng kiêu tăng thì thời nào cũng có . Khi đựơc vua , chính phủ nâng đở , yêu chuộng thì cái ngã mạng của mấy sư lại nổi dậy , lòng tham vô đáy bùng phát . Nhưng chuyện đời lúc lên voi thì cũng có lúc xuống chó . Những lúc các Tăng làm quá đáng nhà vua đã cho tăng hoàn tục , chỉ vì một lớp người chai lười không muốn làm việc , trốn lính vào chùa để sống cuộc đời nhàn nhã , sung sướng giàu sang . Phật giáo hồi Như Lai còn tại thế cũng không tránh khỏi luật Vô thường . Tại Trung Hoa có những lần phế Phật khá lớn như : -Thời Bắc Ngụy Thái Võ Đế (tại vị 424-451), phế Phật, có đến 1300 chùa bị tàn hủy . -Thời Bắc Châu Võ Đế (tại vị 560-578), lại phế Phật lần nữa; số lượng ba triệu tăng ni bị hoàn tục, và 40 ngàn ngôi chùa bị đập phá tiêu hủy có lẽ bị Phí Trường Phòng trong Lịch đại Tam bảo ký thổi phồng lên con số thập bội, nhưng đã nói lên tình trạng tệ hại như thế nào . - Ảnh hưởng tiêu cực nhất là thời Hội Xương năm 845, dưới triều Đường Võ tông, Phật giáo lại bị phế lần nữa, khi đó 4 ngàn 6 trăm tự viện bị hủy, hơn 260 ngàn tăng ni bị hoàn tục, tất cả kinh điển (khi đó còn chép tay) đều bị thiêu đốt, 40 ngàn đền chùa bị tàn phá, hàng triệu mẫu đất phì nhiêu do các vua đời trước phong cấp cho tăng đoàn bị sung công, 150 ngàn nô dịch (ngày nay gọi là công quả) chuyển làm nô lệ nơi khác . -Việt Nam ta thì bị đàn áp từ thời thực dân Pháp do sắc luật số 10 Phật giáo ngang hàng với hiệp hội đua ngựa , mặc dù 80% dân là Phật tử , trong khi Công giáo chỉ 2% lại đựơc công nhận là một tôn giáo . Bất công này kéo dài cho đến Diệm , mãi sau mới nhờ Quốc Trưởng Nguyễn Khánh huỷ bỏ . Nếu không có cuộc cách mạng 1-11-1963 thì Phật giáo không còn ở Việt Nam mà phải cải qua đạo Chúa nếu muốn sống . Chuyện đời lúc nào cũng có nhân mới sanh quả . Chúng ta cũng không trách các vua chúa phải ra tay " đẩm máu thiền môn " cũng vì những tăng sĩ đã đi quá giới luật của Như Lai , sống cuộc đời tham đắm , chấp trước , tham ô , cho nên những gì của Phật trả lại cho Phật, tẩy uế thiền môn, giới tăng sĩ bất lương phải hoàn lương là điều đương nhiên phải đến . Nếu bao lâu các thầy chùa và bà vãi bất lương vẫn cứ ù lì, trơ trẽn không hoàn lương, không quay về với chánh đạo và chánh pháp chân truyền của Phật sẽ lu mờ hay triệt tiêu . Trước đây Đức Phật chỉ giảng kinh và các đệ tử học thuộc bằng cách lập đi lập lại nhiều lần . Sau khi Phật nhập Niết Bàn mới có chuyện ghi chép kinh Phật , mặc dù hình thức còn thô sơ . Như vậy toàn bộ kinh văn không do Phật viết. Tất cả đều do giới tăng chúng phản Phật, huỷ Phật thời sau này đua nhau thêm bớt, bóp méo lời Phật dạy , nhiều nhất là Đại thừa - Tịnh độ Trung Hoa . Họ pha trộn vào đó cả những ý tưởng hư cấu của cá nhân của dân tộc Mãn , Hán , cộng thêm với những truyện thần thoại hoang đường từ truyện cổ tích thần thoại Purana rất lâu đời của dân tộc Ấn, cóp nhặt giáo lý siêu hình huyễn tượng của Bà La Môn và Ấn Giáo. Nếu học giả nào bỏ công nghiên cứu kinh Phật đến nơi đến chốn, tất đều phải nhận ra những chỗ mâu thuẫn, đầy rẫy những ý kiến vô cùng đối chọi , lùng bùng , mù mờ trong kinh Phật , nhiều từ ngữ , điển tích pha trộn giữa chữ Pali , Hán thật là khó hiểu . Vì vậy 2500 năm qua tuyệt đại đa số những kẻ tu Phật đều không thể nào ngộ được đạo , không thành Bồ Tát, thì chẳng lẽ họ lại dại dột tự thú bất lực và tự cởi áo cho xem lưng sao? Thế là họ đành làm thinh luôn, tự biến thành những cao tăng đại bịp, để tiếp tục được hưởng vinh hoa phú quí trong cái vỏ thầy chùa cho đến ngày mãn kiếp . Đó là thực chất phủ phàng mà không ai dám nói , dù chỉ mớm sơ sơ như Thầy Chơn Quang chăng , lập tức bị giáo hội đòi tước quyền , thu bằng , cao tăng chửi bới , thầy chùa cùng Phật tử cắt xén Video , bôi nhọ , tuyên truyền chà đạp ngày đêm không thua gì phường chợ đò . Phật giáo trong biến cố 1963 nhìn chung phần tích cực dĩ nhiên có , nhưng yếu tố tiêu cực cũng không thiếu, đã khiến cho một số tăng ni bị chóa mắt trước hào quang chói lọi giả tạm của một cuộc cách mạng không đổ máu cho nên đạo đức nền tảng bị băng hoại, kéo dài cho đến ngày nay còn âm ỷ chưa dứt . Không thiếu những cái ngã mạng cá nhân chà đạp, còn lại chỉ là những cái vỏ bóng lưởng, mang danh giáo hội thống nhất để dựa vào ngọai bang làm chính trị , muốn đựơc tiếng vang và lãnh giải Hoà bình Nobel . Thực chất sau khi thành lập thì đã có đổ vỡ tách lìa làm đôi do Mỹ và sau đó là CSVN cố tình phá nát . Ý nghĩa câu Phật nói :”SUỐT 47 NĂM THUYẾT PHÁP TA KHÔNG HỀ NÓI MỘT LỜI NÀO !” Nghe ra có mâu thuẩn không ? Sự thật vì lời nói nào rồi cũng theo gió thoảng bay đi. Chẳng khác nào bụi trần bay trước gió hay các loại phấn hoa bay tản mát khắp không gian. May ra có một số giáo thuyết nào còn bám trụ trong đầu các đại đệ tử đồng thời của Ngài , còn hầu hết lời Ngài giảng khi chưa có ghi kinh sách thì cũng bay theo làn gió đi vào không gian . Hơn thế Ngài còn tiên tri viễn kiến thấy: sau khi Ngài đã qua đời bọn đệ tử sẽ lắm kẻ phản Phật bẻ cong giáo thuyết , gắn bừa vào mồm Ngài những lời nói của họ với thâm ý trục lợi cá nhân hay vì tông phái như Đại thừa - Tịnh độ . Việt Nam ta vào thập niên 60 của thế kỷ 20, chỉ có một ít du học tăng tại Ấn Độ. HT Thích Minh Châu là người được mời về làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh đầu tiên có lẽ là người duy nhất của nước Việt Nam thời cận đại .HT Minh Châu là vị tăng chân chính không làm chính trị mà chỉ lo học thuật văn hoá , đây là một gương sáng cần noi theo cho toàn thể tăng đoàn Phật giáo Việt Nam . Hiện nay một số Tăng Ni từ Việt nam qua Mỹ theo diện du lịch, xin ở lại nói là để học nhưng đa số đi làm chùa riêng, ở những vùng không cần thiết, để hưởng nhàn và thu lợi nhuận . Số Tăng Ni khác bỏ Ấn độ cũng chạy sang Mỹ, mượn tiếng là đi tìm tài liệu, rồi tìm cách định cư bất hợp pháp tìm cách lập chùa , gom Phật tử . Những người đó rồi sẽ đóng góp được gì cho Phật giáo Việt nam, khi bản thân họ chỉ biết thụ hưởng những kỷ thuật tân tiến ở Hoa Kỳ . Không thiếu những Tăng Ni hải ngọai có xe đẹp , cell phone đời mới và cũng không quên cái Laptop lúc nào cũng có sẳn bên mình , không phải để khảo cứu kinh Phật mà là mode của thời đại , online du hý bâng quơ . Những lọai kiến thức đó có giúp ích gì cho việc tu tập nội tâm . Tôi cam đoan rằng 99% các tăng sĩ hải ngọai hoàn toàn thóai hóa , không còn giữ giới luật nào của Như Lai . Vậy thì Phật giáo sẽ đi về đâu , phần thì nội công , con cái làm hư nát giáo lý của Ngài như Tịnh độ , phần ngọai kích do Kito , Hồi giáo tìm cách triệt hạ và thu hẹp dần Phật tử từ văn hoá cho đến giáo điều làm sao đưa chân lý giải thóat tuyệt vời của Như Lai thành chuyện cứu rỗi giống y như đạo Chúa , chỉ có hình thức này là diệt Phật giáo hợp pháp và nhanh nhất . Cứ cổ động và giúp cho Đại thừa - Tịnh độ bành trướng cầu nguyện , cứu rỗi thì ngày tàng Phật giáo chỉ là ngắn ngủi trong tầm tay . Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |
| ||||
| Điều ngạc nhiên là ngày nay các tín hữu Kito cũng đến thăm chùa , tham gia những ngày lễ lớn và Phật đản . Trước đây khỏang 10 năm thôi , hoàn toàn không có chuyện hoà đồng đó . Vì trong kinh Thánh vẫn còn sờ sờ " Ai không theo ta là kẻ thù của ta " " Không đựơc bái lại , đến đền thờ của vị thần nào " . Phải chăng họ đựơc lệnh " Hoà đồng tôn giáo " hay cổ vũ , hổ trợ Phật giáo Đại thừa lớn mạnh để có bạn đồng hành CỨU RỖI ? Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế không có cảnh các Phật tử đến chùa làm quần quật cả ngày không lương, lo lau chùi bếp núc, nấu nướng ngày ba bữa cơm ngon, canh ngọt dâng lên đến tận miệng cho Tăng - Ni , ăn xong lo pha trà , sữa cho Thầy cô tráng miệng ,xong rồi lại còn phải rửa ráy cầu tiêu, dọn dẹp, quét rác trong chùa đến khuya mới về . Những Phật tử có hành động này làm cho Tăng - Ni trở nên kiêu căng , ngã mạng , mất hết ý chí tu hành . Giới luật cấm ăn cơm quá ngọ , không đựơc dùng thức ăn qua đêm , không đựơc nằm giường cao 8 lóng tay , không đựơc đào đất , bứng cây v.v....... nhưng các Thầy cô đều làm xả láng . Tệ hơn nữa là vớt vong , cúng sao , cầu an ...... đều có giá cả cho mỗi lọai lễ . Việc này HÒAN TÒAN KHÔNG CÓ trong giáo lý Thích Ca , tự Đại thừa - Tịnh độ đặt ra , đó là tà giáo đội lốt Mâu Ni . Chân lý của Thích Ca chính là đạo SỰ THẬT , không hứa hẹn , lừa dối như Kito , A Di Đà . Ngài là một nhà đại tâm lý học cũng là lương y chữa bệnh tâm thần rất tài tình , về tư tưởng , tình cảm, trí tuệ, đạo đức, lẫn lối sống của con người đều đựơc Thích ca quan tâm và chỉ dạy con đừơng giải thóat . Từ đấy, giáo pháp của Đức Phật rất thân thiện , gần gũi với thực tế trong đời sống chúng ta. Giáo pháp ấy là tổng hợp mọi khuôn khổ , nếp sống nó quán triệt hết những gì là tinh hoa cao đẹp nhất của con người và vạn hữu . Một nền giáo lý xây dựng trên sự thật về con người và về cuộc đời : lấy CON NGƯỜI làm chủ điểm để giải quyết những việc liên quan đến cuộc sống nhân lọai bằng trí tuệ , khoa học . Hoàn toàn không van xin , cầu nguyện , hứa hẹn hảo huyền : ĐÓ LÀ CHÂN LÝ THÍCH CA . Tất cả sự thật mà trong kinh gọi là KHẾ LÝ - KHẾ CƠ . Khế lý có nghĩa giáo lý của Ðức Phật là sự thật, đúng chân lý. Khế cơ, tức giáo pháp ấy thích hợp với mọi trình độ con người và xã hội loài người, trong khắp các thời đại bất biến và khó thay đổi hay bị phê phán phải sửa đổi . Đức Phật Thích Ca dạy hai nguyên lý căn bản : TỨ ĐẾ - LỤC ĐỘ nhằm giáo dục con người cách tu tâm dưỡng tánh , ngoài việc tu thân phải biết thể hiện qua thực hành ,tu là phải hành , biết diệt trừ mọi nỗi nguy khốn, khổ đau, hòng giúp mình giải thóat và giúp con người xây dựng một Xã hội thực sự văn minh, nhân bản , hạnh phúc, một lối sống cao đẹp hoàn toàn dân chủ , tự do của Ðạo Làm Người. Đạo làm người không phải là kiểu " Ở rộng người người , ở hẹp người chê " theo kiểu Khổng giáo , mà đạo làm người là biết độ tha và giác tha , lấy lòng TỪ BI - HỶ XẢ làm nhân bản chính . Ở rộng cũng tha , hẹp cũng không chấp trước , bắt bẻ , nghĩa là phải trái , đúng sai cũng không bao giờ CHẤP NGÃ , đó là chân lý cao cả nhất của Phật giáo Thích ca mà không một giáo chủ nào có đựơc . Ngài dạy chúng sanh hãy sống thương yêu, hỷ xả ...và đừng bao giờ tạo "nghiệp" gây khổ não cho nhau, vì mọi con người đều đáng thương, đều cần phải được sống xứng đáng như nhau khi MÁU CÙNG ĐỎ , NƯỚC MẮT CÙNG VỊ MẶN THÌ KHỔ ĐAU NÀO CŨNG GIỐNG NHAU đó là chân lý . Có máu nào màu xanh hay có vị ngọt không ? Nếu có thì chắc có nhiều lọai khổ đau không giống nhau . Hoàn toàn không bao giờ có các lọai máu đó . Vậy thì lời Ngài dạy quả đúng là CHÂN LÝ không thay đổi dù hoàn cảnh nào , thời gian bao lâu . Suốt 2500 năm nay chưa một khoa học gia nào đánh đổ được giáo lý của Thích Ca . Ngoài ra còn nhiều luật chân lý như vậy " Nhân nào quả đó " ..... " Sanh già bệnh tử " " Nhân chi sơ tánh bổn thiện " .... nhiều vô số kể trong kinh Phật . Nhưng quý vị nhớ cho một điểm , dù là trong rừng kinh điễn Phật giáo , nhưng những bài kinh , cuốn kinh nào dạy cầu nguyện đựơc giải thóat thì đó không phải là chân lý Thích Ca , không phải do Ngài dạy . Kinh nào dạy cầu an , niệm Phật thì không phải của Ngài Thích Ca , vì Ngài chỉ dạy " Tinh tấn tiến lên " " Hãy mạnh dạn thắp đuốc mà đi " . Nếu bất cứ ai nắm đựơc nguyên tắc về giáo lý độc lập , anh dũng tiến lên chứ không bi quan , yếm thế như Tịnh độ thì ĐÓ LÀ GIÁO LÝ THÍCH CA . Quý vị không hoa mắt , khiếp sợ lạc vào rừng kinh điển , dù một rừng kinh , những mớ giây bìm bìm rối bời , quý vị vẫn bình tỉnh và chỉ đọc vài đọan xem tinh thần dạy có giống như Thích Ca không , nếu khác thì dụt bỏ đọc sang cuốn khác như : Cứ là cúi đầu cầu nguyện , cúng sao , vớt vong , bói toán , cầu siêu ..... đó là kinh dổm , kinh ngụy tạo của Đại thừa , hoặc cho rằng dâm dục là giải thóat như Mật tông cũng là kinh dổm mạo danh Đức Phật mà thôi . Vì sao ? Ngài chủ trương giải thóat khổ đau và diệt dục mà . Vậy thì kinh nào nói khác đi là nguỵ tạo . Đến đây tôi nghĩ rằng quý vị đã nhận thức đựơc phần nào về giáo lý , kinh điển , chân lý của Ngài Thích Ca. Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |
| ||||
| Ngày xưa Đức Phật Thích Ca ngồi thiền định 49 ngày đêm dưới gốc cây Bồ Đề đã tìm ra chân lý đạo giải thóat . Nếu Ngài tiếp tục tu theo phương pháp hành xác như sáu năm qua thì có lẽ chúng ta ngày nay không thụ hưởng đựơc một giáo lý trí tuệ , giải thóat mọi khổ đau bằng một phương thức hành trì rõ ràng . Sự giải thóat cho chính mình và tự mình đi đến giải thóat . Ngài không tụng kinh , niệm Phật hay cầu nguyện A Di Đà , Quán Âm , Ngài cũng không bái lại vị Thần sông, núi , cúng sao , vớt vong , cầu an , sám hối như Tịnh độ ngày nay . Ngài nhờ thiền tâm mới thanh tịnh , chứ gõ mỏ inh ỏi , đánh chuông chát chúa , đó là chưa kể ngày nay còn dùng máy khuých âm cho lớn thì tâm làm sao thanh tịnh đựơc ? Vậy mà những Tăng Ni Tịnh độ bình thản ê a bằng những âm thanh chát chúa ấy . Nhưng Thiền thường được hiểu là ngồi yên, trầm tư mặc tưởng, phân tích hoặc suy nghĩ về một luận cứ , một giải pháp . Đôi khi nó cũng được hiểu là ngồi xuống, nhắm mắt lại và giữ cho trí óc không suy nghĩ gì cả, nhờ vậy làm cho tâm trí được thanh tịnh bằng cách tránh thoát các vấn đề. Chính Đức Phật đã dùng lối thiền này mà tìm ra chân lý .Thiền cũng có thể là một cái gì đó rất tự nhiên và đơn giản , không gò bó mà ta hiểu " Đói ăn , khát uống , tối ngũ khì " . Có phải Thiền đem thiêng liêng mầu nhiệm đến với cuộc sống đời thường như chúng ta hằng nghĩ không ?. Bokogu, một vị đại thiền sư, luôn luôn nói : -“Thật là tuyệt vời! Thật là mầu nhiệm! Tôi đang khiêng dầu, tôi đang gánh nước.” -“Thật là tuyệt vời! Thật là mầu nhiệm!” Việc khiêng dầu và gánh nước từ giếng lên được ông tán thán “Thật là mầu nhiệm!” Ðó chính là tinh thần của Thiền. Nó chuyển hoá cái bình thường thành phi thường. Nó chuyển hoá cái ô trọc thành thiêng liêng. Nó xóa nhòa biên giới giữa phàm và thánh. Đó cũng là quan niệm của Osho . Thực ra thiền vốn nó không tự động chuyển hóa cái bình thường thành phi thường , mà sự chuyển hoá phải nhờ trí tuệ , cái trí tuệ đựơc vận dụng lý trí tìm hiểu , lý luận để tìm cái phi thường một cách có hệ thống , mạch lạc và logic , điều này chứng minh tư tưởng Osho là sai . Thiền không cần Thượng Ðế, không cần thánh kinh, không cần nhà tiên tri. Cũng không phải là hiện hữu toàn vẹn hay chính là lời tiên tri của Thượng Ðế hay hiện hữu toàn vẹn là thông điệp của Thượng Ðế , điều đó không hẳn như thế . Thiền tông không lấy đức tin, khi chỉ biết tin thì phải tuyệt đối , chính cái tuyệt đối là đầu mối của mê tín dị đoan , Thiền không đặt niềm tin mà lấy trí tuệ làm bước đầu. Trí tuệ thì giản trạch, phân biệt; còn lòng tin thì khẳng định như vậy, cứ tin rồi làm , thành ra hai bên khác nhau. Tu theo Thiền tông, muốn bước vào cửa Thiền phải đi từ cửa KHÔNG . Cửa Không chính là trí tuệ Bát-nhã. Từ trí tuệ Bát-nhã, nhận định hiểu thấu được sự thật của muôn pháp trên thế gian, không bị lầm mê cho giả là thật . Vì vậy nhiều bà già lú lẫn , còn lẩm cẩm hỏi rằng : " Không tin Tịnh độ sao cứ rao giảng kinh , video về Tịnh độ " Đó là phản luận khi giảng pháp . Không tin cách thức cầu nguyện sẽ đựơc cứu rỗi , cầu A Di Đà sẽ đựơc về Tây phương . Nói suông , giảng suông người Phật tử không hiểu , trái lại ta cho họ nghe , thấy những Video giảng của Tịnh độ rồi từ đó ta chỉ những cái sai , vô lý , hứa hẹn hảo huyền ....... thì người dân sẽ hiểu và giác ngộ ngay . Đó là tâm ý của tôi mà cở mấy bà già tám tửng cứ thắc mắc mà không bao giờ biết đến . Lời nói và việc làm của người tri thức có khác , không giống những người bình thường , nhất là hạng đàn bà tám tửng . Đối với Tịnh độ là một sự lừa dối vĩ đại như Kito giáo hứa hẹn một thiên đừơng mù , một cỏi Tây phương xa vời đầy ảo tưởng . Thiền thì khác, nó cắt đứt tất cả mọi gốc rễ , nó là đây là ở ngay trong tâm mỗi chúng ta . Nó đựơc minh thị và xác định qua tâm thức bằng trí tuệ . Cũng có thể đo lường , tính tóan về sự an lạc và Niết bàn bằng đầu óc vỹ đại của con người . Nhưng Thiền cũng có thể hủy diệt cái dịch vụ cơ bản nhất của giới tu sĩ khi có giả tâm lợi dụng Thiền như là một phương tiện cứu rỗi và lường gạt kiểu Tịnh độ , Kito . Thiền cũng không đi tìm một khóai lạc hay Thượng đế kiểu Jean Paul Sartre định nghĩa : " Âm hộ là một hố sâu thâm thẩm và ươn ứơt , mà nơi đó người ta tìm ra Thượng Đế . Như vậy thì Thượng Đế là ở đây và trước mặt chúng ta mỗi ngày và cũng bình thường như những cái bình thường khác . Thựơng Đế chưa chết và ta cũng dễ dàng tìm ra Thượng Đế để hiệp thông . Nhật Bản có một từ ngữ đặc biệt để diễn tả điều này. Họ gọi đó là Konomama hay Sonomama –“Cái Ðây là” của hiện hữu. Một chữ Ðây viết hoa- không là cái gì khác. Mà Osho cho đó " Chính cái như thị này của đời sống mới là Thượng Ðế, không là cái gì khác. Chính cái như thị trong khoảnh khắc này đây mới thánh hóa, thiêng liêng: cái như thị của một cành cây, cái như thị của một hòn đá, cái như thị của một người nam, cái như thị của một người nữ, cái như thị của một đứa trẻ. Và cái như thị đó không hề được định nghĩa, không thể được định nghĩa. Bạn có thể tan biến vào đó, thể nhập vào đó, nếm được hương vị của nó. “Thật là tuyệt vời! Thật là mầu nhiệm!”" Vậy thì chúng ta không thể định nghĩa được nó, không thể phân tích nó một cách luận lý, không thể đóng khung nó vào một ý niệm dứt khoát, rõ ràng. Nó sẽ bị giết chết bởi ý niệm luân khởi mung lung khi tìm Thượng Đế . Chính Thiền mới là sợi dây trói cột đựơc những con vượn tâm linh chạy nhảy không mệt mỏi trong chúng ta . Thiền đã nói ra điều này một cách rất đơn giản " Đói ăn , khát uống , tối ngũ khì " , chỉ đơn giản và tự nhiên thế thôi . Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |
| ||||
| Hơn 2500 năm nay , con người vẫn còn đặt lại tiêu đề Thiền là gì ? Có nhiều lập luận , lý giải về Thiền , nhưng mỗi góc nhìn , mỗi logic tùy theo từng khía cạnh mà nó mang màu sắc . Cũng có thể cho rằng : Thiền có công năng giúp ta khôi phục trọn vẹn con người của ta, giúp ta trở thành tươi mát, định tĩnh, an lạc và chăm chú để ta có thể nhìn sâu vào bản thân và hoàn cảnh để thấy được thực tại của bản thân mình và hoàn cảnh. Chính nhờ cái thấy ấy mà giúp ta vượt thoát khổ đau và ràng buộc. Một khi chúng ta trở nên một con người có an lạc và hạnh phúc hơn, chúng ta sẽ không còn làm đau khổ kẻ khác bằng cách cư xử và nói năng vụng về sai trái nữa , mà chúng ta bắt đầu chuyển hoá được hoàn cảnh xung quanh và giúp những người xung quanh được an lạc, hạnh phúc như ta. Điều mà Osho lại nhận định Thiền theo con mắt hướng về Thượng Đế và có nhận định lệch lạc về Thiền , nên ông viết : Thiền nói rằng con người là một tổng thể, một cấu trúc hữu cơ. Trong khoa học hiện đại có một khái niệm mới hiện đang được nói đến gọi là lưỡng tính (androgeny). Buckminster Fuller đã định nghĩa lưỡng tính như là sắc thái đặc biệt của một hệ thống toàn bộ, một cấu trúc hữu cơ. Một cấu trúc hữu cơ không phải chỉ là một tổng hợp đơn thuần của những bộ phận. Nó là một cộng thể (synergetic) -đó không phải chỉ gồm những bộ phận được ráp lại với nhau. Khi mà những bộ phận này kết hợp lại và vận hành như một nhất thể trong một trật tự ổn cố, cái cộng thể này xuất hiện –với cái tín hiệu sống, như tiếng ‘tíc-tắc’ của đồng hồ. Bây giờ nếu bạn mở cái đồng hồ ra và tháo rời từng bộ phận, tiếng ‘tíc-tắc’ này biến mất. Khi bạn lắp ráp chúng lại trong một trật tự vận hành -tiếng ‘tíc-tắc’ xuất hiện trở lại. Cái tín hiệu sống này hoàn toàn mới. Nó ở đâu ra vậy? Không một bộ phận riêng rẻ nào trong cái cộng thể đó trách nhiệm về nó. Không một bộ phận cá thể nào chứa nó. Chính cái toàn bộ, cái tổng thể đã phát ra cái tín hiệu đó. Cái tín hiệu sống đó là cái hồn. Nếu bạn tách lìa tay tôi ra, nếu bạn tách lìa chân tôi ra, nếu bạn tách lìa đầu tôi ra, cái tín hiệu đó biến mất. Ðó là linh hồn của sự sống, nó chỉ tồn tại trong một cơ thể hợp nhất. Thiền không phải là vật chất ( thân thể ) hay linh hồn . Thiền của Phật giáo phải hiểu là " Phương cách và nguồn năng lượng được sử dụng để làm công việc này là Chánh niệm. Chánh niệm (Right mindfulness) là một trong tám chi phần quan trọng của Bát chánh đạo. Chánh niệm tức là sự ý thức, sụ có mặt của tâm ý một cách trọn vẹn, tự chủ và sáng tỏ ngay trong mỗi giây phút của hiện tại, bây giờ và ở đây. Chánh niệm là khả năng giúp cho ta ý thức được những gì đang có mặt, đang xảy ra trong ta và quanh ta ." Thiền là tìm về với Tâm chứ không phải là Thân . Phật giáo không chấp nhận có linh hồn . Cho nên điều mà Osho nói :"Không một bộ phận cá thể nào chứa nó. Chính cái toàn bộ, cái tổng thể đã phát ra cái tín hiệu đó. Cái tín hiệu sống đó là cái hồn. Nếu bạn tách lìa tay tôi ra, nếu bạn tách lìa chân tôi ra, nếu bạn tách lìa đầu tôi ra, cái tín hiệu đó biến mất. Ðó là linh hồn của sự sống, nó chỉ tồn tại trong một cơ thể hợp nhất." là không đúng với Phật giáo . Giáo lý đạo Phật chủ trương không có bản ngã, nghĩa là không có linh hồn: những tác dụng tâm lý của con người vẫn chỉ là những tác dụng tâm lý. Chúng phát hiện và hoạt động khi có điều kiện (thân sinh hoạt) và trở về trạng thái chủng tử tiềm phục khi các điều kiện kia tan rã ( chết ) . Khoa học không thể nào tìm ra, Triết học không thể nào đến gần . Thượng Ðế chính là cái tín hiệu sống trong hiện hữu nhất thể. Bạn không thể tìm ra Thượng Ðế bằng cách mổ xẻ ra từng bộ phận , nghĩa là bạn phải có đức tin tuyệt đối thì dễ dàng tìm ra Thượng Đế và đến hiệp thông cùng Ngài . Vậy thì như Jean Paul Sarter đã nói về " Âm hộ đàn bà " , nơi đó cũng gặp Thượng Đế vậy . Thế thì không cần Đức tin ta đến đàn bà và tìm ra khóai cảm tình dục tuyệt đối thì cũng gặp Thượng Đế . Cho nên tôi nói gặp Thượng Đế không khó , vì Ngài ở khắp cùng nơi và ngay chính ở thế gian này , bên cạnh rất gần với chúng ta chứ Ngài chẳng ở thiên đàng nào cả . Hoá ra chúng ta bị lừa dối và dẫn dắt sai lầm của Toà Thánh giống như Tịnh Độ lừa dối Phật tử . Osho thường cổ xuý tình dục , vì ông cho rằng khi dục vọng đựơc thỏa mãn thì ta không đòi hỏi tiếp theo , sự kéo dài của sex càng lâu thì thời gian đòi hỏi tình dục cũng dài hơn , lâu hơn và sau các hiện tượng sinh lý vật lý luôn luôn biến chuyển kia, phải có một yếu tố bất biến. Chính yếu tố đó là linh hồn, và chính linh hồn đó tự nhận mình là một bản ngã. Nếu không có linh hồn đó thì làm sao giải nghĩa được cái tính chất đồng nhất nó tồn tại qua mọi biến chuyển, tính chất đồng nhất mà mọi người đều cảm thấy ở tự thân mình hoặc ở bản thân một người khác. Đó là cái nhầm lớn lao của Osho khi nghĩ như vậy . Đức Phật không công nhận linh hồn, vì vậy không chấp nhận rằng có linh hồn di chuyển. Ðạo Phật chỉ chủ trương nhân quả (Patica Samuppada): một hậu quả nào phát sinh cũng phải có những nguyên do tiền hữu. Còn dục vọng, còn ham muốn thì vẫn còn sự sống , chính đó là bản năng sinh tồn của muôn vật . Tình dục là nhựa sống , là chất xúc tác để tồn tại và hiện diện với cuộc đời . Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |
| ||||
| Tâm Hà Lê Công Đa giải thích chân lý qua chuyện "Con ngựa già của chúa Trịnh." : Chúa Trịnh rất thích ngựa đẹp. Con ngựa được tuyển để chạy xe cho Chúa là con ngựa thuộc loài giống tốt. Nó được nuôi dưỡng để làm một nhiệm vụ duy nhất là kéo xe cho Chúa. Từ nhỏ nó đã được gắn hai tấm mạng để che mắt hai bên. Từ đây nó không còn được phép nhìn đi bất cứ nơi đâu mà chỉ nhìn về một hướng. Không có một con đường nào khác ngoài con đường trước mặt. Ngày hai buổi đi về trên lối mòn cũ, trên một con đường nó đã thuộc nằm lòng. Bao nhiêu năm như thế. Con đường này đã trở thành chân lý, không có một sự thật nào khác ngoài con đường này. Chân lý cụ thể như vậy cho nên dầu có nhắm mắt lại nó cũng không bao giờ đi chệch ra một bước. Rồi đến một ngày khi nó già yếu không còn kéo xe được nữa, người mã phu cho tháo hai tấm che ở hai bên mắt ra. Con ngựa già của chúa Trịnh vô cùng ngạc nhiên -và hoảng hốt- khi khám phá ra rằng chân lý không phải chỉ là một lối mòn duy nhất mà trong bao nhiêu năm qua nó cắm cúi đi về. Hai bên đường còn có biết bao nhiêu là hoa thơm cỏ lạ, thế giới chung quanh thật mênh mông và huyền diệu biết bao Ông ta cho rằng đây là một ẩn dụ chính trị, nhưng đồng thời cũng là một ẩn dụ về tâm linh, đời sống, và con người.Ngoài ra câu chuyện con ngựa già khi được mở mạng che mắt thì hắn hiểu ra chân lý không phải một con đường mà nó vẫn kéo xe cho chúa Trịnh đi lại nhiều năm , mà chung quanh còn nhiều hoa thơm cỏ lạ và nhiều chân lý đẹp hơn.Theo lối diễn giải chân lý như vậy có vẽ thô thiển và cực đoan. Cũng có thể quanh ta có nhiều chân lý , nhưng chân lý nào là thực tiển và mang lại lợi ích cho nhân loại vĩnh viễn. Chân lý không phải chỉ là sự nhìn thấy , hiểu biết điều mới lạ mà chân lý là lẽ phải và đạo đức. Riêng đối với cá nhân tôi đây là những vị Tăng Ni có tư tưởng Phật giáo muốn đánh thức Thiền tông như là tìm lại " Chân Lý Thích Ca " thì đúng hơn . Trong số những bộ Kinh Pháp Cú do Sư bà Trí Hải dịch và Sư cô Minh Tâm ở hải ngoại với một số tác phẩm khác. Cũng trong chiều hướng này, người Việt dịch “Thiền: Con Ðường Nghịch Lý” là Tâm Hà Lê Công Đa muốn cổ động Thiền mang lại chân lý đúng của giáo lý Thích Ca. Nhưng điều ông ta quá vội tin vào Osho quảng bá , rao giảng Thiền dùm Thích Ca , mà Osho mượn Thiền của Phật giáo làm cây cầu bắt ngang để mọi người có đường về Thượng Đế , chính là cái tính dục mà ông Osho muốn quảng bá và giới thiệu như là một tư tưởng mới cho giới trẽ. Osho làm việc đó là một điều lợi cho Phật giáo chăng , điều mà Lê Công Đa có phần nhầm lẫn. Nếu đi sâu và đi suốt thì chúng ta thấy dã tâm của Osho không những lợi dụng Thiền của Phật giáo và ngay cả Thượng Đế cũng bị ông ta chơi trò cút bắt. Thâm tâm của ông ta chỉ là phục vụ cho con người và chính bản thân ông ta được hưởng nhiều dục vọng. Đọc “Thiền: Con Ðường Nghịch Lý” của Osho các bạn phải cẩn trọng và dè dặt , vì ông ta có một lối dẫn dụ quanh co mới nhìn như là ca tụng Phật giáo , nhưng thực chất là một đòn đánh chí tử ,độc ác. Không phải người ta chống báng , chụp đủ thứ mũ cho Osho vì ông không tiếc lời phê phán những kẻ đang sống bám vào tôn giáo chủ trương cầu nguyện và cứu rỗi như là miếng mồi ngon cho cuộc sống. Trong đó không thiếu những thế lực, tổ chức chính trị núp bóng tín ngưỡng trong âm mưu nô lệ hoá con người kiểu Đại Đế Constantine , Đại thừa - Tịnh độ người Hoa . Có lẽ tâm lý con người thích sống trong nô lệ như cầu xin Thượng Đế cứu rỗi , cầu nguyện A Di Đà để được về Tây phương. Nên Trung Hoa phát động Đại thừa là đáp ứng tâm lý quần chúng và nhằm thoả mãn tánh ưa thống trị của người Trung Hoa từ lâu. Phải cân nhắc , nhìn cho thật kỷ thì người Phật tử không muốn van xin mà chính A Di Đà ( Trung Hoa ) DỤ DỔ bằng kinh " 48 lời nguyện " : 1. Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 2. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sau khi mạng chung còn trở lại ba ác đạo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 3. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều thân màu vàng ròng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 4. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sắc thân chẳng đồng có kẻ xấu người đẹp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 5. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng biết túc mạng, tối thiểu là biết sự việc trong trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 6. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhãn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 7. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhĩ, tối thiểu là nghe lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na do tha chư Phật và chẳng thọ trì hết, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 8. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được tha tâm trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na do tha cõi nước, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 9. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thần túc, tối thiểu là khoảng một niệm qua đến trăm ngàn ức na do tha nước Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 10. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi nếu sanh lòng tưởng nghĩ tham chấp thân thể thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 11. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn ở nước tôi, chẳng an trụ định tụ quyết đến diệt độ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 12. Giả sử khi tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu đến trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 13. Giả sử khi tôi thành Phật, thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 14. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thanh Văn trong nước tôi mà có người tính đếm được, nhẫn đến chúng sanh trong cõi Ðại Thiên đều thành bực Duyên Giác cùng nhau chung tính đếm suốt trăm nghìn kiếp mà biết được số lượng ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 15. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi thọ mạng không ai hạn lượng được, trừ họ có bổn nguyện dài ngắn tự tại. Nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 16. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi mà còn nghe danh từ bất thiện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 17. Giả sử khi tôi thành Phật, mười phương vô lượng chư Phật chẳng đều ngợi khen xưng tụng danh hiệu của tôi thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 18. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 19. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 20. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu của tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng những cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 21. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhơn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 22. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi nước khác sanh về nước tôi rốt ráo tất cả đến bực nhứt sanh bổ xứ. Trừ người có bổn nguyện tự tại hóa độ, vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ chứa công đức độ tất cả, đi qua các nước Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng dường chư Phật mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh khiến họ đứng nơi đạo chánh chơn vô thượng, vượt hơn công hạnh của hạng tầm thường, hiện tiền tu công đức Phổ Hiền. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 23. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi thừa thần lực Phật đi cúng dường chư Phật, khoảng bữa ăn nếu không đến khắp vô số vô lượng ức na do tha cõi nước thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 24. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi ở trước chư Phật hiện công đức mình, nếu những thứ dùng để cúng dường không có đủ theo ý muốn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 25. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói nhứt thiết trí thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 26. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng được thân Kim Cương Na la diên thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 27. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn và tất cả vạn vật trong nước tôi trang nghiêm thanh tịnh sáng rỡ hình sắc đặc biệt lạ lùng vi tột diệu không ai lường biết được, dầu là có thiên nhãn mà biện biệt được danh số ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 28. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, nhẫn đến người công đức ít nhứt mà chẳng thấy biết đạo tràng thọ màu sáng vô lượng cao bốn trăm muôn dặm thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 29. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi nếu đọc tụng thọ trì diễn thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 30. Giả sử khi tôi thành Phật, trí huệ biện tài của Bồ tát trong nước tôi mà có hạn lượng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 31. Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi thanh tịnh soi thấy tất cả vô lượng vô số bất khả tư nghị thế giới chư Phật mười phương, như gương sáng soi hiện hình gương mặt, nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 32. Giả sử khi tôi thành Phật, từ mặt đất lên đến hư không, những cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa, tất cả vạn vật trong nước tôi đều dùng vô lượng châu báu, trăm ngàn thứ hương hiệp lại làm thành xinh đẹp kỳ lạ hơn hàng thiên nhơn. Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới mười phương. Bồ Tát nghe mùi hương ấy đều tu hạnh Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 33. Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương, được quang minh tôi chiếu đến thân, thân họ nhu nhuyến hơn hẳn hàng thiên nhơn. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 34. Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi mà chẳng được Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn các thâm tổng trì thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 35. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng nữ nhơn của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi vui mừng tin ưa phát tâm Bồ đề nhàm ghét thân người nữ, nếu sau khi chết mà họ còn sanh thân người nữ lại thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 36. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất tư nghì thế giới mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi sau khi thọ chung thường tu phạm hạnh đến thành Phật đạo. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 37. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn trong vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi rồi năm vóc gieo xuống đất cúi đầu vái lạy vui mừng tin ưa tu hạnh Bồ Tát thì được chư Thiên và người đời đều kính trọng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 38. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi muốn được y phục liền tùy nguyện hiện đến, y phục đẹp đúng pháp như Phật khen ngợi tự nhiên mặc trên thân. Nếu còn phải may cắt nhuộm giặt thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 39. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi hưởng thọ khoái lạc chẳng như bực lậu tận Tỳ Kheo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 40. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát nước tôi tùy ý muốn thấy vô lượng nước Phật trang nghiêm thanh tịnh mười phương thì liền được toại nguyện, đều được soi thấy ở trong những cây báu, như thấy mặt mình hiện rõ trong gương sáng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 41. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó đến lúc thành Phật nếu các căn thân còn thiếu xấu chẳng được đầy đủ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 42. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được thanh tịnh giải thoát tam muội, khoảng một lúc phát ý, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, mà không mất tâm chánh định. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 43. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, sau lúc thọ chung sanh nhà tôn quý. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 44. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở tu hạnh Bồ Tát đầy đủ cội công đức. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 45. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được phổ đẳng tam muội, an trụ trong tam muội nầy đến lúc thành Phật thường thấy vô lượng bất khả tư nghị tất cả chư Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 46. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở trong nước tôi tùy chí nguyện của mỗi người muốn được nghe pháp liền tự nhiên được nghe. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 47. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đến bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 48. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đệ nhứt nhẫn, đệ nhị nhẫn và đệ tam pháp nhẫn, nơi các Phật pháp chẳng liền được bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. Đây có phải là vấn nạn chung của con người trên bình diện tâm linh, tư tưởng, do bị điều kiện hoá, thường có khuynh hướng thích được sống trong nô lệ hơn là được giải phóng hay không? Con người thường cảm thấy ham thích đi cầu nguyện Phật hộ trì , ban phước lành và van xin Thượng Ðế hơn là đi tìm con đường giác ngộ , giải thoát khổ đau. Dựa vào tâm lý này Đại thừa đã bành trướng và phát huy cực độ như là một nguồn cung ứng tâm linh thích hợp với con người. Osho đang nhắm vào điểm này để công kích Phật giáo , nhưng ông đừng quên rằng lối cầu nguyện cứu rỗi là của Phật giáo Đại thừa chứ chẳng phải giáo lý Thích Ca. Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |
| ||||
| Sau khi đọc hết bài kinh " 48 lời nguyện " của A Di Đà chúng ta thấy hoàn toàn là một câu chuyện GIẢ SỬ tức là chưa có và tham vọng của Ngài suốt 48 lời nguyện cũng chỉ là Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. Như vậy Ngài chỉ ham muốn ngôi báu , danh vọng mới nguyện hy sinh tất cả . Chính vì Ngài vướn mắc tham - sân - si cho nên đến giờ này vẫn chưa thành Phật . Một sự ngã chấp : bắt buộc phải van xin , cầu nguyện Ngài mới cứu độ , mới cứu rổi . Một sự ngã mạng : Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. Đọc toàn bài kinh mà hầu hết của kinh Đại thừa chung chung cũng chỉ là những lời hứa như Kito giáo và những điều kiện ắc có và đủ chứ hoàn toàn không đưa ra một giáo lý dạy dổ chúng sanh sống đạo hạnh , lòng tự tin , kiên nhẫn , từ bi và hỹ xã ........ đó cũng là một điểm thêm để quý vị nhận biết giữa kinh Đại thừa và kinh Phật Thích Ca . Ví dụ như Thiền là môn tu chính thức của Đức Phật có hiệu lực và lợi ích mà ngay chính Osho cũng phải táng dương ca ngợi : -Những bộ mặt chảy dài nghiêm trọng không phải là những bộ mặt tôn giáo. Chúng cho ta thấy một điều là họ không hề hiểu biết gì cả -khi hiểu được chắc là họ sẽ có một nụ cười. Thiền là tôn giáo duy nhất có tiếng cười thế nên tôi nói rằng Thiền là tôn giáo có trình độ cao nhất từ trước đến nay. Nó không làm cho đời bạn trở nên xấu xí, nó không làm bạn trở thành kẻ tàn tật -nó làm cho đời bạn trở thành một vũ điệu, vui sống. -Thiền mang nụ cười và làn gió mới vào tôn giáo. Ngay cả chế nhạo tôn giáo. Ðây là một phương cách tiếp cận hoàn toàn khác biệt -lành mạnh hơn, tự nhiên hơn. Các bạn thấy không ? Giáo lý của Ngài là giải thóat và an lạc . Trong một rừng kinh Phật Thích Ca không có một lời bắt buộc , dụ dổ ai phải van xin , cầu nguyện Ngài mới đựơc giải thóat , Ngài cũng không áp đặt những điều kiện nào để không lên ngôi vị nào cả . Bản thân Ngài là một Hòang tử sắp lên ngôi vua mà vẫn vứt bỏ , vậy thì Ngài còn ao ứơc lên ngôi nào nữa ? Chân lý của Ngài là cởi trói , giải thóat và không vướn bận danh vọng , vật chất của thế gian , ngược lại kinh A Di Đà , Quán Âm , Dược Sư , Phổ Hiền Hạnh Nguyện của Đại thừa đều chú trọng và một bài ca cùng âm điệu " Đặt điều kiện " rất giống nhau . Bạn cũng đừng vui mừng khi Osho khen Thiền và ca ngợi Thượng Đế thế này : Những tôn giáo khác đều tỏ ra rất nghiêm trọng -làm như việc vươn đến Thượng Ðế là một đại sự, làm như có ai đó đang giựt Thượng Ðế ra khỏi tay họ, làm như Thượng Ðế đang tìm cách ẩn trốn chúng ta, làm như Thượng Ðế tạo ra rất nhiều chướng ngại một cách cố tình; làm như là có một sự tranh đua lớn và không có đủ Thượng Ðế cho hết thảy mọi người; làm như Thượng Ðế là tiền bạc và chẳng bao giờ đủ cho tất cả. Thế nên nếu như bạn không chụp giựt Thượng Ðế ngay tức khắc trước những kẻ khác, những người khác sẽ chụp giựt mất. Ðây là những người rất nghiêm trang, những người chỉ biết đến tiền, những người có mục tiêu để nhắm đến -nhưng thực sự không phải là những con người tín ngưỡng. Thượng Ðế rất đổi lớn lao, rất đổi bao la, rất đổi vĩ đại. Ðây là nhất thể của vạn hữu -làm sao ai có thể làm tiêu mòn đi được? Thế nên không có nhu cầu phải sợ rằng ai đó sẽ tranh chiếm mất Thượng Ðế trước bạn, và rồi bạn sẽ không biết phải làm gì, bạn sẽ bị mất Thượng Ðế vĩnh viễn. Thế nên cũng không cần phải chiến đấu, tranh đua. Và bạn cũng có cả một khoảng thời gian vô tận dành cho bạn. Bạn không cần phải hấp tấp, không cần phải quá nghiêm trọng. Cái xảo trá của Osho là nâng Thiền , Thượng Đế lên thật cao để cho té thật nặng , ông không ngần ngại cười ruồi cái thiên đàng của Thượng Đế : Một chú bé lần đầu tiên được mẹ dẫn đi xem cuộc triển lãm những hình nhân nổi tiếng thế giới bằng sáp của Madam Tussaud tại London. Cậu bé có vẻ rất xuống tinh thần khi xem qua toàn bộ khung cảnh. Bà mẹ khích lệ con: “Con biết không, những người này toàn là những danh nhân sống trước đây rất lâu. Tất cả họ nay đã chết hết rồi.” Cậu bé lại càng u ám rầu rĩ hơn, lẩm bẩm: “Thì ra thiên đàng là thế!” Ðiều nguy hiểm là vậy. Nếu bạn đi thăm viếng một thiên đàng Cơ Ðốc giáo bạn sẽ gặp một khung cảnh tương tự như thế. Và thật quả là một ác mộng kinh hoàng khi sống chung với những vị thánh Cơ Ðốc. Có người hỏi một vị Thiền sư tại sao chúng ta không có nhiều vị thánh ở trên trái đất này. Ông ta cười và trả lời: “Thiên đàng là nơi tốt nhất cho họ bởi vì chúng ta rất khó mà sống chung với họ. Ðiều may mắn cho chúng ta là họ không ở trên trái đất này. Hãy để họ sống ở trên thiên đàng.” Tốt nên là như thế. Hãy tưởng tượng bạn đang sống với một vị thánh. Có lẽ bạn phải tự tử mất. Cậu bé giác ngộ khi hiểu rằng : “Thì ra thiên đàng là thế!” . Thiên đàng không phải là nơi để sống đời đời , hạnh phúc , sung sướng như Thượng Đế nói , mà nơi đó chỉ toàn là người chết rồi “Con biết không, những người này toàn là những danh nhân sống trước đây rất lâu. Tất cả họ nay đã chết hết rồi.” Và nơi đó khó mà sống chung với những vị thánh . Vậy thì làm gì có chuyện sống lại của Chúa Kito , làm gì có cảnh thiên đàng sung sướng , sống đời đời ..... thì ra đó là chiếc bánh VẼ to tướng chẳng khác gì Tây Phương Cực Lạc . Hết chê Thượng Đế , Osho quay sang xỏ ngọt và cười mỉa Thiền sau khi khen chiếu lệ : Thiền mang nụ cười và làn gió mới vào tôn giáo. Ngay cả chế nhạo tôn giáo. Ðây là một phương cách tiếp cận hoàn toàn khác biệt -lành mạnh hơn, tự nhiên hơn. Ðấy là những điều cơ bản. Có thể là tôi đã đi quá nhanh. Hãy lắng nghe câu chuyện sau đây. 'Pop' Gabardine, huấn luyện viên của đội bóng đá Midwestern, chứng kiến cảnh những cầu thủ của mình bị đè bẹp liên tiếp trong tám buổi chiều thứ Bảy thi đấu, lần cuối cùng với một tỉ số thê thảm : 52/0. Khi đội bóng tụ họp lại vào sáng Thứ Hai hôm sau, Pop tuyên bố một cách cay đắng: “Trận thi đấu cuối cùng của mùa này đã qua rồi, chúng ta có thể đã quên tất cả những mánh khoé thi đấu mà tôi đã cố gắng dạy cho những kẻ đần độn như các bạn. Bây giờ chúng ta trở lại những bài học căn bản. Hãy bắt đầu. Bài học thứ nhất: Cái vật mà tôi đang cầm trên tay này được gọi là trái bóng. Bài học thứ hai... Ðến đây nhà huấn luyện viên Gabrine bị ngắt lời bởi một anh hậu vệ mặt đầy lo lắng đứng ở hàng đầu, thỉnh cầu, 'Này, Pop, đừng có đi quá nhanh.' Có lẽ tôi đã đi quá nhanh nhưng hy vọng các bạn ở đây không ai đần độn cả. Tôi tin vào sự thông minh của các bạn. Osho đã đi quá nhanh ở điểm nào ? "Thiền mang nụ cười và làn gió mới vào tôn giáo " Không phải Thiền lúc nào cũng mang nụ cười và làn gió mới đâu . Ông ta không tin Đức Phật chỉ ngồi Thiền 49 ngày đêm mà đạt đựơc chánh giác . Một chân lý không dễ gì sáng suốt và dễ tìm khi còn phải phấn đấu nhịn đói , nhịn khát , lại còn thức ngũ và an trụ với thời gian liên tục 24 giờ x 49 ngày = 1.176 giờ với nóng bức ban ngày , giá lạnh ban đêm cùng muổi mòng cắn , đốt . Điều này Osho không tin nên viết "Có lẽ tôi đã đi quá nhanh nhưng hy vọng các bạn ở đây không ai đần độn cả. Tôi tin vào sự thông minh của các bạn." Không thể có ai đần độn để tin điều ấy . Đúng ! Osho có thể nghi ngờ những gì vượt ra ngoài sự bình thường của con người . Nhưng ông ta quên rằng ý chí và nghị lực , thần thông có thể làm đựơc tất cả . Nếu ông ta nhìn những người đi trên nước , bước trên lữa , có thể bị chôn dưới lòng đất 30 ngày không có Oxy để thở mà vẫn sống ..... những điều đó thuộc về tâm linh mà Osho không thể đem dẫn dụ bằng câu chuyện bóng đá và lý luận bằng bộ não bình thường . Đọc bài Osho bạn phải cân nhắc và suy nghĩ trước khi tin . Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |
| ||||
| Đi sâu vào Thiền , điều mà Osho bắt gặp hay nói đúng hơn là đồng chí hướng cùng quan điểm với Mật Tông về sự hợp ý Thiền - Tình dục . Osho nói rằng : "Thiền là một khoa học. Đó là một phát biểu rất đơn giản nhưng có rất nhiều ý nghĩa. Thiền không phải tín ngưỡng, không phải giáo điều, không phải nghi lễ mà là một khoa học, một sự thí nghiệm không phải với thế giới bên ngoài, mà trong thế giới nội tâm của hành giả." Thiền là nội tâm nên qua bao nhiêu thời đại , khoa học tìm hiểu , sách báo ghi chép cũng không có kết quả mấy . Kiến thức đó không thể học qua sách vở, mặc dù tài liệu về khoa học đó không hề thiếu ở thế gian này như Mật Tông . Thiền chỉ có thể được truyền từ đạo sư qua đệ tử nghĩa là tâm qua tâm . Mật tông là con đường buông thả, tự nhiên theo chiều hướng Phật giáo , Osho cũng đồng ý như thế : "Mật tông nói bạn phải chấp nhận bất cứ bạn là gì. Bạn là một bí ẩn với nhiều sinh lực trong mọi chiều. Hãy chấp nhận sinh lực đó với sự nhạy cảm sâu sắc, với tỉnh thức, với tình yêu, với hiểu biết. Hãy đi theo sinh lực ấy. Được vậy thì mỗi ham muốn đều trở thành một phương tiện để vượt qua nó, và mọi sinh lực đều có lợi ích riêng của nó. Và thế giới này sẽ là Niết Bàn; thân xác này sẽ là một đền thờ." Nhưng Phật giáo dùng Thiền không phải vì tình yêu , dục vọng như Osho cho biết " Nếu biết thế nào là yêu, chúng ta chẳng cần phải học một phương pháp thiền nào cả. Bởi vì nhiều lắm là chúng ta chỉ có những thoáng nhìn về tình yêu, những phương pháp này có thể giúp chúng ta vượt qua giới hạn của chúng ta ." Nếu Osho , Mật Tông dùng Thiền để quán chiếu , đạt đến tình yêu , dục vọng tuyệt đỉnh thì cái đó là quyền của họ , nhưng không nên gán ghép Thiền Tình cảm nhằm phục vụ con người khóai cảm này vào Phật giáo , nhất là đạo Phật Thích Ca nhằm GIẢI THÓAT nhân lọai , chúng sanh chứ không phải mục đích PHỤC VỤ con người sống hiện tại cùng thế gian này . Vì tình yêu , khóai cảm nào dù cao tột đỉnh cũng có ngày tụt xuống hố thấp giống như đồ thị Parabol . Lọai Thiền này cứ luẩn quẩn lên rồi xuống như một hành trình của tình yêu và sex , điều đó không có gì đáng nói và chân lý cần giải thóat con người vĩnh viễn như lời Thích Ca . Bạn thử so sánh sự hạnh phúc , an lạc , sung sướng ( nội tâm ) của một cặp tình nhân , với một cao tăng đắc đạo thì chúng ta sẽ thấy : 1-Yêu hạnh phúc : Có thể kéo dài 5 - 10 hay 60 năm cuộc đời nhưng chưa chắc miên viễn . Vì tình yêu sẽ nguội lạnh khi gánh nặng gia đình chồng chất bên đàn con . Tình dục sẽ yếu lần khi tuổi đời tóc điểm muối sương . 2-Cao tăng : Một vị cao tăng khi Thiền đã vượt đến đỉnh bằng nội tâm thì khó bị ảnh hưởng tụt xuống theo luật Parabol . Ngài không thể bị suy giảm do hoàn cảnh chung quanh chi phối vì vật chất ,xác thịt , cũng không ảnh hưởng vì tuổi già ngự trị . Tâm luôn luôn tịnh nhờ Thiền . Như vậy Thiền của Osho , Mật Tông chủ trương , cổ xuý không có giá trị lâu dài trước thời gian lẫn không gian như Thiền của Phật giáo Như Lai . Cho nên Osho hoàn toàn sai lầm khi nói :"Suy nghĩ và cảm xúc là hai loại căn bản. Bạn phải biết bạn thuộc loại nào. Và chẳng có loại nào cao, loại nào thấp. Đừng nghĩ rằng trí thức cao hơn cảm xúc. Không! Chúng chỉ là những loại người khác nhau. Không có ai cao hơn hay thấp hơn." Qua dẫn dụ của tôi ở trên chứng tỏ con người vốn thay đổi theo từng sát na , không một sinh vật , thực vật nào có thể trường cữu vĩnh viễn với tạo hóa , đó là luật VÔ THƯỜNG của Ngài Thích Ca . Đây là chân lý , đây là lẽ sống cần nhìn thẳng và nhận định đúng đắn . Thiền thể xác , tình yêu như Osho , Mật Tông chỉ là những khóai cảm nhất thời của con người đi vào tình dục như ngọn đèn bùng lên chợt sáng , nhưng sẽ lịm tắt khoảng cách và thời gian . Cũng vậy , khi bạn làm tình sẽ sung sướng tột đỉnh do khoái cảm , cũng có thể tìm ra Thượng Đế trong lúc hành lạc , nhưng sau giây phút đó bạn sẽ ê chề , mệt mỏi và không muốn tình dục tiếp tục nửa . Điều mà Osho dạy cách làm tình thế nào cho dài lâu , bằng cách nín thở , không làm cho sự ham muốn cấp thời để hơi thở dồn dập , đưa đến sự sớm xuất tinh và vật nhào trước sự khóai cảm . Càng bình thản , nén hơi thở không dồn dập thì hành lạc càng kéo dài . Tất cả những thứ đó Osho trình bày chẳng có gì mới lạ đối với người Trung Hoa . Quan điểm Thiền của Ngài Thích Ca là có đầy đủ tuệ giác và đức hạnh để giải thóat vĩnh viển chứ không để tồn tại thụ hưởng như Osho , Mật Tông dạy tình dục . Phật dùng Thiền để tịnh tâm khai sáng trí tuệ đạt đến bờ giác . Trong đó đáng ra họ phải chú trọng và tìm hiểu TÁM CÁI GIÁC HAY BÁT MINH CỦA ÐỨC PHẬT: 1-Túc Mạng Minh (Pubbe nivasa Nana): Trí tuệ thấy rõ, biết rõ, nhớ rõ thân ngũ uẩn của Ngài từ một kiếp, hàng trăm kiếp, hằng ngàn kiếp, hằng vạn kiếp, hằng triệu kiếp, hằng triệu triệu kiếp. 2-Thiên Nhãn Minh (Cutupapata vijja): Trí tuệ thấy rõ biết rõ như mắt của chư thiên, phạm thiên, có khả năng thấy rõ biết rõ quá khứ, vị lai của tất cả chúng sinh. 3-Lậu Tận Minh (Asavakkhaya Nana): Tuệ thiền minh sát (Vipassana) siêu tam giới, đó là 4 Thánh đạo diệt đoạn tuyệt được 4 pháp phiền não trầm luân không còn dư sót. Ðó là Trầm luân trong Ái dục (Kamasava), Trầm luân trong Tam giới (Bhavasava), Trầm luân trong tà kiến (Ditthasava), Trầm luân trong Vô minh (Avijjasava). 4-Minh Sát Minh (Vipassana vijja): Tuệ quán tưởng các pháp hành (sankhara), biết và thấy rõ ràng, đầy đủ, xuyên suốt, và như thật sự sinh và sự diệt của Vật chất và Tâm 5-Hoá Tâm Minh (Manomayiddhi Vijja) là cái tuệ có thể hóa thân khác theo mong muốn của mình, do nhờ năng lực của thiền định. 6-Thần Thông Minh (Iddhividhi vijja) là cái tuệ có khả năng biến hóa nhiều pháp thần thông khác nhau do nhờ năng lực thiền định. 7-Thiên Nhĩ Minh (Dibbasota Nana) là tuệ có thể nghe những tiếng động từ rất xa, bị bịt kín, hoặc nhỏ nhiệm mà tai của người đời thường không thể nghe được. 8-Tha Tâm Minh (Cetopariya Nana) là tuệ biết rõ ý tưởng hoặc tâm thức của người khác. Đức Phật hoàn toàn không dùng sự giác ngộ để hiểu biết nhằm phục vụ tình dục .Đức Phật đi xa hơn và thoát khỏi dục vọng. Ngài không dùng con đừơng Thiền để mang lại sung sướng , khóai cảm nhất thời trong tình yêu , thể xác bình thường mà Đức Phật dùng Thiền , lấy Thiền làm con đừơng tri giác nhắm đến hiểu biết để giác ngộ và giải thoát khổ đau . Đó là CHÂN LÝ mà Osho và đứa con Mật Tông của Đức Phật đã hành đạo , tuyên giảng sai ý của Ngài thì không bao giờ đạt đến chân lý và tồn tại lâu dài . Người đi dấu vết chưa nhòa , Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng . Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông . (Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang) ** Con xin họa lại bài thơ của Ngài : Người về cùng nổi thương mong , Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây . Tam tài hóa kiếp đạo dầy , Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng . Hoa Sen . |






Linear Mode