Go Back   Discussion Forums > Thông Tin Văn Hóa Xã Hội > Phật giáo - Hòa hảo
Reload this Page Chân Lý Thích Ca.
Reply
 
LinkBack Thread Tools Display Modes
(#11 (permalink))
Old
HoaSen's Avatar
HoaSen HoaSen is offline
Senior Member
Rep Power: 3
HoaSen is infamous around these parts
 
Posts: 702
Thanks: 1
Thanked 0 Times in 0 Posts
Join Date: Nov 2007
Đạo Phật Thích Ca phát xuất từ Ấn Độ , nhưng tiếc thay chỉ có 2% theo đạo giác ngộ của Ngài Thích Ca . Sau khi nhập diệt , các đệ tử Bổn sư bị chấn động mạnh như một cơn sốc (chocke) khi mất đi người thầy vĩ đại hướng dẫn tâm linh . Trong giai đọan này Phật giáo chia ra Tiểu-thừa và Đại-thừa tức là Đại chúng bộ: Gồm những Tỳ kheo trẻ có tư tưởng cấp tiến muốn thay đổi một số giới điều sao cho hợp với xu thế đương thời .Thượng tọa bộ: Gồm những vị trưởng lão chủ trương bảo thủ duy trì lời Phật dạy, không muốn thay đổi. Các đại đệ tử tổ chức bốn lần trùng tuyên giáo pháp của Như-Lai tại bốn địa điểm khác nhau :

1/Lần kiết tập thứ nhất tại thành Vương-Xá, do ngài Ma-ha Ca-Diếp triệu tập gồm 500 vị Đại-Đức Tỳ-kheo tụng niệm và ghi lại những lời Phật đã giảng thuyết .

2/Lần kiết tập thứ hai sau khi Phật nhập Niết-Bàn 100 năm nhằm giải quyết về những nghi vấn trong giới luật, diễn ra tại thành Tỳ-Xá-Ly gồm 700 vị Đại-Đức Tỳ-kheo do ngài Da-Xá chủ tọa , giai đọan này có đề cập sửa lại giới luật thứ 10 " Tỳ kheo có quyền cất giử vàng bạc " .

3/Lần kiết tập thứ ba vào năm 200 năm sau khi đức Bổn-Sư nhập diệt , do vua A-Dục triệu tập 1000 vị Đại-đức và các bậc Thiện-hữu-tri-thức tại thành Hoa-Thị , ngài Mục-Kiền-Liên được làm chủ tọa.

4/ Lần kiết tập thứ tư, sau 600 năm, do vua Ca-Nị-Sắc-Tra chủ xướng và nhóm họp tại thành Ca-Thấp-Di-La, có 1,500 người do ngài Hiếp tôn giả và ngài Thế-Hữu chủ tọa.

Vì các đại đệ tử có trình độ giáo pháp ngang nhau , nên vấn đề chia các tông phái đã bắt nguồn từ Ấn-Độ . Khi Phật giáo đựơc truyền vào Trung-Hoa (thế kỷ 1 Tây-lịch, năm 67, niên hiệu Vĩnh-Bình thứ 10) do đầu óc phong lhú và tánh tự hào dân tộc của người Hoa , vì vậy Phật giáo đựơc biến thái cho phù hợp với dân tộc, nên chia ra thành 13 tông phái khác nhau như sau :

- Tỳ-Đàm
- Thành-Thật
- Luật
- Tam-Luận
- Niết-Bàn
- Địa-Luận
- Tịnh-Độ
- Thiền
- Nhiếp-Luận
- Thiên-Thai
- Hoa-Nghiêm
- Pháp-Tướng
- Chân-ngôn-tông.

Tùy theo từng giai đoạn lại chia ra thành 8 tông, 9 tông, 10 hoặc 12 tông như :

- Tam-Luận
- Pháp-Tướng
- Pháp-Hoa
- Câu-Xa
- Thành-Thật Luật
- Thiên-Thai
- Chơn-ngôn-tông
- Thiền-tông thành 9
- Tịnh-độ là 10 tông.

Ngoài ra, còn có Tịnh-độ-chơn-tông và Nhật-liên-tông tức là 12 tông phái .
Việc lập tông phái của Phật giáo Trung-Quốc mở đầu sự biến thái về hành trì và giáo lý Thích Ca bị ảnh hửơng rất nhiều , đôi lúc còn đi ngược chiều tôn chỉ của Bổn sư . Đại thừa , Mật tông ( Kim Cang thừa ) là hai tông phái đưa thêm nhiều nghi thức lễ bái , thêm kinh , sửa kinh và những hành trì trong cuộc sống cho thích hợp với thời đại mới . Ví dụ : Không còn đi khất thực mà tự canh tác ruộng , hoa màu để sinh sống , luyện võ công để tự vệ , đựơc quyền kinh doanh , giữ vàng bạc để sanh tồn và phát huy chùa . Có nhiều vị sư tham gia chánh quyền , nắm thế sự vì vậy giúp cho sự phát triễn Phật giáo tiến nhanh trong thời kỳ Tống , Đừơng , Tuỳ .... nhiều cao tăng mở trường giảng kinh Pháp-Hoa, Luận-Trí-Độ, kinh Niết-Bàn .

Nếu việc phân chia tông phái trong Phật giáo chỉ có lợi khi nào các hàng đệ tử của Phật biết cùng nhau tu dưỡng và phát huy tinh thần để quảng bá sâu rộng trong dân gian . Ngược lại việc phân chia có tánh cách bè phái , địa phương, thầy tổ, kỳ thị, cố chấp, tự cao , ngã mạng ... là những mối nguy cơ cho Phật giáo, không đưa lại được một lợi ích nào cả. Sự công kích , chống đối nhau khi phái Đại thừa cho là giáo lý Nguyên thủy tức Tiểu thừa không đưa đến quả vị tối hậu thành Phật, chỉ có giáo lý Đại thừa mới là giáo lý chân chính của Phật. Ngược lại, các nhà sư Nguyên thủy thì cho rằng giáo lý Nguyên thủy mới chính truyền là của Phật, còn giáo lý Đại thừa là ngoại đạo. Sự bất đồng quan điểm ấy đã làm băng giá mối quan hệ của hai truyền thống cả ngàn năm . Tuy rằng chống đối nhiều mặt , nhưng cả hai đều chấp nhận :

1/ Đức Phật Thích-ca Mâu-ni là bậc Đạo sư.

2/ Giáo lý Tứ thánh đế, Bát chánh đạo, Duyên khởi...; đều chấp nhận pháp ấn Khổ, Không, Vô ngã; Giới-Định-Tuệ.

3/ Từ chối về một đấng Thượng đế tối cao sáng tạo và ngự trị thế gian .





************************************************** ****************************************


Người đi dấu vết chưa nhòa ,
Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng .
Tam sanh hẹn kiếp tao phùng,
Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông .


(Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang)

** Con xin họa lại bài thơ của Ngài :

Người về cùng nổi thương mong ,
Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây .
Tam tài hóa kiếp đạo dầy ,
Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng .

Hoa Sen .
Reply With Quote
(#12 (permalink))
Old
quang_tam3 quang_tam3 is offline
Junior Member
Rep Power: 0
quang_tam3 is infamous around these parts
 
Posts: 11
Thanks: 1
Thanked 0 Times in 0 Posts
Join Date: Sep 2008
Quote:
nhà Vật lý học Mỹ gốc Do Thái Albert Einstein, cha đẻ của Thuyết Tương đối và là người được giải thưởng Nobel Vật lý về Quang Điện (Photoelectric) năm 1921 ông đã nhận định về Phật giáo như sau:

" Nếu có một tôn giáo nào ứng phó được với các nhu cầu khoa học hiện đại thì tôn giáo đó chính là Phật giáo. Phật giáo không cần phải duyệt xét lại hầu cập nhật hóa với những khám phá khoa học mới đây. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để theo khoa học, vì Phật giáo không những đã bao gồm cả khoa học mà còn vượt qua cả khoa học nữa."
Albert Einstein cũng là Phật tử
Reply With Quote
(#13 (permalink))
Old
HoaSen's Avatar
HoaSen HoaSen is offline
Senior Member
Rep Power: 3
HoaSen is infamous around these parts
 
Posts: 702
Thanks: 1
Thanked 0 Times in 0 Posts
Join Date: Nov 2007
Hơn 2550 nay tất cả hàng trí thức , học giả đều cho rằng :" Đạo Phật Thích Ca là đạo chân lý , sự thật nhất trong các tôn giáo " . Chân lý ở đâu ? Sự thật ở điểm nào ? Vì giáo lý Phật giáo trải qua bao nhiêu thời đại , không gian lẫn thời gian giáo lý của Đức Bổn sư vẫn trường tồn không phải vì sức mạnh đem quân đi tàn sát các tôn giáo khác , cũng không phải dùng xảo thuật ,tiền bạc để kiếm thêm linh hồn Phật tử . Cái chân lý và sự thật là vì Phật giáo đi đúng với thực tế , không huyền ảo , mơ mộng , hứa hảo huyền một nước trời mờ ảo . Điều mà nhà Vật lý học Mỹ gốc Do Thái Albert Einstein, cha đẻ của Thuyết Tương đối và là người được giải thưởng Nobel Vật lý về Quang Điện (Photoelectric) năm 1921 ông đã nhận định về Phật giáo như sau:

" Nếu có một tôn giáo nào ứng phó được với các nhu cầu khoa học hiện đại thì tôn giáo đó chính là Phật giáo. Phật giáo không cần phải duyệt xét lại hầu cập nhật hóa với những khám phá khoa học mới đây. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để theo khoa học, vì Phật giáo không những đã bao gồm cả khoa học mà còn vượt qua cả khoa học nữa."

(If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific findings. Buddhism needs no surrender its views to science, because it embraces science as well as goes beyond science).

Nhưng phải hiểu Phật giáo là giáo lý của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cơ . Nếu có người lý luận : Tại sao Phật giáo cũng có nước Tây phương cực lạc giống như nước trời vậy ? Đó chính là ĐIỂM CHÍNH cần đi sâu và nhấn mạnh trong lọat bài của tôi .

Trong bài giảng : Diệu Dụng Pháp Thân HT. Thích Nhất Hạnh cho rằng :

"Này nữa Xá Lợi Phất! Ở nước Cực Lạc có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được làm bằng bốn thứ châu báu, bao quanh giáp vòng, vì vậy cõi ấy được gọi là cõi Cực Lạc."


Câu kinh này nói về y báo trang nghiêm của cõi Cực Lạc. Y báo là môi trường và hoàn cảnh tương hợp với chánh báo. Chánh báo chính là bản thân đức Bụt A Di Ðà. Y báo bao gồm cả nhân dân và cõi nước. Y báo và chánh báo trang nghiêm của cõi Tịnh Ðộ là do bản nguyện của đức Bụt A Di Ðà và nhân dân của cõi nước ấy tạo nên. Cũng vậy, y báo và chánh báo của cõi Ta Bà đều do nghiệp lực cộng đồng của chúng sanh ở cõi này tạo tác ra. Nghiệp lực của chúng sanh nơi cõi Ta Bà này được tạo nên bằng ngũ dục. Nhân dân cõi này luôn luôn lao mình vào ngũ dục, do đó chất liệu Tịnh Ðộ biến mất, không còn nữa.

Tại sao Bụt Thích Ca nói ở cõi Tịnh Ðộ không có mặt ba con đường ác? Một mặt thì Bụt A Di Ðà thuyết pháp, một mặt thì chim chóc nâng đỡ và hướng mình đi về nẻo hướng thượng, thì làm sao mà có tam ác đạo? Chỉ trừ khi nào ta chán Tịnh Ðộ và muốn bỏ đi. Ðiều này là do ta mà ra. Ðức Bụt A Di Ðà sẽ nói: "Tội nghiệp cho con. Con không muốn ở đây, con lại muốn về bên đó! Nếu ở đây thì con có tăng thân, có Bụt, có chim, có hồ sen, có đủ điều kiện để giữ cho con đừng đi thối lui, nhưng nếu lòng trần của con đã biểu hiện và con muốn trở về với cõi Ta Bà thì con sẽ đánh mất Tịnh Ðộ và tăng thân này.

Tăng thân là một khung cảnh hiến tặng cho chúng ta sự an ninh. Tăng thân với hai vòng tay vững chãi giữ ta lại trên con đường giới, định và tuệ. Vì vậy chúng ta phải quyết tâm ở lại với Tăng thân "Chúng con nguyện một lòng về nương tựa Tăng thân." Cõi Tịnh Ðộ là một tăng thân quý báu nhất.

Khi đi vào bếp để nấu cơm, chúng ta cũng có thể tu chánh niệm được. Ðến phiên ta nấu cơm cho đại chúng thì ta vào bếp, thắp một cây hương, dâng hương, rồi bắt đầu nấu cơm. Trong suốt thời gian một giờ rưỡi hay hai giờ làm việc dưới bếp, ta biết thực tập theo dõi hơi thở, biết là đang xắt gọt, rửa nồi hay xào nấu, ... trong chánh niệm. Do đó ta vẫn đang an trú trong cõi nước Cực Lạc. Còn nếu không biết tu thì ta vừa làm vừa giận, vừa làm vừa buồn, vừa ganh, vừa nói chuyện hay vừa nói xấu người khác, thì tuy cũng là khung cảnh ấy nhưng đó là cõi Ta Bà. Ta có giới, định và tuệ, tức là có sự thực tập thì nhà bếp là Tịnh Ðộ chứ không phải là Ta Bà. Tất cả đều tùy nơi ta. Bất cứ một cái gì ta thấy được và tiếp xúc được đều có thể biến thành pháp khí. Cái chổi hay cái nồi cũng là pháp khí, cái gì cũng có thể trở thành một điều kiện thuận lợi cho sự tu học của ta. Ðó là tài năng của đức A Di Ðà. Tài năng của đức A Di Ðà là sử dụng tất cả những gì đang có mặt để đưa dân chúng của mình đi lên trong sự tu học. Tài năng của Tăng thân cũng vậy, từ chuyện nấu nướng, dọn dẹp, làm vườn, cho đến việc chăm sóc cây cảnh, tất cả những cái đó đều trở thành phương tiện tu học. Chúng ta phải sử dụng tất cả những yếu tố đó để đi tới trên con đường tu tập và chuyển hóa.

Trong cõi Tịnh Ðộ người ta cũng nấu cơm, ăn uống, đi hái hoa cúng Bụt, nghe kinh và đi thiền hành. Cõi ta đang ở cũng vậy thôi. Không cần phải qua bên đó ta mới làm được những chuyện kia. Ngay bây giờ ta cũng có thể làm được những chuyện mà bên ấy người ta đang làm, tức là hái hoa, cúng Bụt, tụng kinh, nghe kinh, rửa chén, ăn cơm, đi kinh hành... Cõi Tịnh Ðộ đẹp như vậy, cõi Tịnh Ðộ đang có mặt cho chúng ta. Chỉ có một điều là chúng ta đang có mặt cho cõi Tịnh Ðộ hay không mà thôi.

Vì sao thầy nhấn mạnh chữ " Tăng thân " ? Vì vậy chúng ta phải quyết tâm ở lại với Tăng thân "Chúng con nguyện một lòng về nương tựa Tăng thân." Cõi Tịnh Ðộ là một tăng thân quý báu nhất. Tức là nương tựa vào Phật - Pháp - TĂNG . Hình ảnh ba thân này luôn luôn tượng trưng cho thanh tịnh tức là Tịnh độ . Tại vì Nghiệp lực của chúng sanh nơi cõi Ta Bà này được tạo nên bằng ngũ dục. Nhân dân cõi này luôn luôn lao mình , say đắm và chìm ngập vào ngũ dục, do đó chất liệu Tịnh Ðộ biến mất, không còn nữa. Điều quan trọng theo thầy Thích Thanh Từ tu Tịnh độ thì luôn luôn lấy niềm tin làm trên, nên người tu Tịnh độ phải có đủ Tín-Hạnh-Nguyện. Tín là lòng tin. Tin chắc có cõi Cực lạc, tin chắc mình niệm Phật sẽ được Phật đón về Cực lạc. Từ tin chắc, mới khởi hành tức cố gắng niệm Phật, gọi là hạnh. Niệm Phật rồi, phải phát nguyện sanh về cõi Cực lạc. Như vậy mới đủ Tín-Hạnh-Nguyện, trong đó lòng tin là bước đầu trên đường tu.Điều này gây nên sự NGỘ NHẬN cho Phật giáo Thích Ca . Phật giáo không đặt NIỀM TIN hay ĐỨC TIN như Kito giáo hay A Di Đà mà còn bác bỏ điều đó . Đức Bổn sư lấy trí tuệ làm bước đầu học đạo mà Thiền tông đang hành trì . Đạo Thích Ca là một đạo dùng lý trí mà gạn lọc phải trái , gian tà . Ngài hoàn toàn không nhắm mắt để tin mà luôn luôn dùng trí tuệ suy xét và đem ra thực hành trước khi tin ( Kinh 10 điều chớ vội tin ) là một chứng minh rõ ràng đựơc nhắc nhở hàng ngày . Chớ vội tin không có nghĩa là Ngài dạy sự nghi ngờ và bác bỏ tất cả , mà điều đó đựơc tin sau khi suy nghĩ là hợp lý , không gây đổ máu , khổ đau cho chúng sanh , điều đó đựơc thiện trí thức tán dương đồng tình . Không nên khiếp sợ , cả tin khi điều đó vì do một vị cao tăng thốt ra , hay do tập tục từ ngàn xưa truyền lại , còn tệ hại hơn khi đựơc ghi từ kinh điển ....... Tất cả đều phải rà xét lại , đặt câu hỏi bằng trí tuệ và đem ra thực hành rồi mới tin . Tuy Đức Bổn sư đã dạy thế , nhưng ngay con cái Ngài ( Tịnh độ - Mật tông ) vẫn đưa vào những giáo điều sai trái , mê hoặc và lọai bỏ trí tuệ bằng một niền tin tuyệt đối khi tu . Đó là điều sai lầm cần chấn chỉnh .






************************************************** ****************************************


Người đi dấu vết chưa nhòa ,
Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng .
Tam sanh hẹn kiếp tao phùng,
Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông .


(Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang)

** Con xin họa lại bài thơ của Ngài :

Người về cùng nổi thương mong ,
Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây .
Tam tài hóa kiếp đạo dầy ,
Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng .

Hoa Sen .
Reply With Quote
(#14 (permalink))
Old
HoaSen's Avatar
HoaSen HoaSen is offline
Senior Member
Rep Power: 3
HoaSen is infamous around these parts
 
Posts: 702
Thanks: 1
Thanked 0 Times in 0 Posts
Join Date: Nov 2007
Giáo điều mà Tịnh độ rao giảng và khuyến dụ ai cũng niệm Phật để khi lâm chung được đức Phật đón về Cực lạc. Trong kinh nói Cực lạc ở phương Tây cách cõi Ta-bà này mười muôn ức thế giới , nhưng không biết cõi Ta bà đó nằm bao xa , ở đâu ? Cho nên nếu Phật không đón thì không biết đường đâu mà đi , điều này chẳng khác gì God giao chìa khóa cho Giáo Hoàng mở cửa thiên đừơng mới biết chỗ mà vào . Nhưng hỏi thì cứ chỉ ở trên trời , xa lắm . Cọng vào đó Tịnh độ thường đưa ra kinh cầu an , sám hối , có nhiều chùa cúng sao , giải hạng , bói tướng có tính cách quần chúng thật , nhưng đầy mê tín dị đoan hoàn toàn trái với giáo lý Thích Ca . Tội tức là do NGHIỆP quả của mình gây ra , không ai có quyền ân xá gánh vác , thế mà Tịnh độ dám cả quyết niệm danh hiệu 35 vị Phật thì dù tội bao nhiêu đời , bao nhiêu kiếp cũng xóa tang . Niệm A Di Đà thì lúc chết đựơc đưa về sống tại nước Tây phương đầy cực lạc . Gặp nạn thuyền chìm , lữa đốt ..... cứ niệm Quán Âm là tai qua nạn khỏi . Vì vậy đa số quần chúng Việt Nam và Phật tử thế giới vẫn còn niềm tin Phật nhưng đó là niềm tin có quá nhiều tính chất tiêu cực ,có nhiều những tác động tiêu cực ở ngoài vào trong khi không có những nỗ lực điều hướng ,giữ gìn niềm tin do tu trì niệm Phật của Tịnh độ mà ra . Ngoài ra còn bị pha trộn với nhiều hình thái tín ngưỡng dân gian đầy những mê tín dị đoan do một số Tăng Ni thiếu lương tâm , trục lợi cổ xuý bất chấp tác hại đến giáo lý Phật Thích Ca . Tin Phật, tin nhân quả đó nhưng cũng tin vào bói toán, cầu đảo, vào sự thưởng phạt của đủ loại thần, thánh, ma, quỷ rồi cúng dường , cầu đảo nhằm đưa đến sự van xin , đút lót Thần thánh mà chính là các Thầy thụ hưởng .

Trái lại Thiền tông dạy Phật tử tu quán sát lại nội tâm của chính mình , đi sâu và tìm hiểu chính mình chứ không van xin , cầu nguyện ai cả . Về phần nội tâm, nhà Phật phân nhiều loại. Theo Duy thức học, chúng ta có những tâm vương, tâm sở. Trong tâm sở, lại có tâm sở thiện, tâm sở ác nhưng có đi vào tâm mới biết thiện ác để hành trì đúng và định hướng cho sự tu tập , nghĩa là Thiền tông đòi hỏi nhiều về trí tuệ và tự lực ở chính mình .

Xưa nay đạo Phật vốn là đạo của Trí Tuệ, đã và đang còn bị nhìn bởi một số đông người như là Đạo của mê tín, dị đoan, hủ lậu do chiều hướng tụng niệm , khẩn bái mà ra , trông chẳng khác gì đạo Chúa . Khi mà cuộc sống vật chất và tâm linh gặp khó khăn niềm tin Phật của quần chúng trỗi dậy mạnh mẽ , sự trỗi dậy của nhiều hình thức tín ngưỡng dị đoan của nhiều người khoác áo tu hành “làm ăn” ở những hình thức tín ngưỡng này không thiếu . Thậm chí rất nhiều chùa ở hải ngọai ghi danh cầu an về bản thân , gia đạo và kèm thêm 50 - 100 đô dâng cúng cho thầy , đây là sự thật nếu quý vị cứ đến bất cứ chùa nào cầu an cũng như thế , chẳng thà đạo Kito ra giá đặt lễ hôn nhân 5000 $ - 10.000$ , cầu an , xưng tội .... có giá cả từ xưa chúng ta không bàn đến , vì họ là tôn giáo thế quyền , God là tối thượng . Nhưng Phật giáo Ngài Thích Ca không cho phép làm như thế . Tất cả chúng sanh cùng bình đẳng khi Phật dạy :

" Máu nào cũng có vị mặn thì khổ đau nào cũng giống nhau ."

Ngày nay hầu hết các Tu sĩ ngoài hai thời công phu sớm - khuya và khóa lễ Tịnh độ ở các chùa, viện, đã làm cho đời sống người Tu sĩ thiếu nội lực tâm linh và phẩm chất người Tu sĩ ngày càng yếu kém trên cả hai mặt đạo đức lẫn khả năng tu trì hầu lãnh đạo , dẫn dắt Phật tử . Các Thầy thiếu nội lực và yếu kém phẩm chất mà lại mang thân vào đời để đảm nhiệm các mặt thế trị phức tạp của một tổ chức Giáo Hội đi chuyên sâu chính trị và đấu tranh như yêu cầu mong muốn . Trong nước thì GHPGVN tham gia , cọng tác với chính quyền , quên đi bổn phận tu sĩ là hoằng dương chánh pháp . GHPGVNTN vì mất đi hào khí quang vinh đấu tranh 1963 kéo theo sự sụp đổ chính quyền VNCH là đối tượng chiến thắng của GHPGVNTN ngày nào , bây giờ lá cờ vàng ba sọc ngày xưa đàn áp , tiêu diệt Phật giáo dưới thời hai Tổng Thống Kito giáo Diệm - Thiệu nay lại đựơc o bế tôn sùng nằm chung với cờ Phật giáo ở các chùa , đó là điều mâu thuẩn và nghịch lý .

Về đạo các tu sĩ hoằng dương Tịnh độ đi ngược đừơng Thích Ca , phổ biến , tuyên truyền cầu nguyện và an tâm chấp nhận số phận để đựơc về Tịnh độ mà người Kito đang mắc phải . Về đời thì gây chuyện mê tín , cầu đảo , bói tóan ,dị đoan . Cả hai mặt đã và đang dấn sâu Phật giáo vào vũng bùn ô trược . Dù họ lý luận " Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn " cũng không tẩy xóa đựơc tâm linh con người . Nếu Tịnh độ cho rằng khi suy nghĩ kỹ cõi Ta Bà với tất cả niệm và định, ta sẽ thấy cõi Ta Bà này cũng đẹp lắm. Tôi nghĩ rằng cõi Tịnh Ðộ ở Tây phương cũng chỉ đẹp bằng cõi Ta Bà này mà thôi. Tất cả những gì ta thấy ở cõi Tịnh Ðộ thì bên này ta cũng có thể thấy được cả. Chúng ta đã từng nghe các vị tổ sư nói: Tịnh Ðộ ở trong tâm mình"ở tâm mình có sự nhẹ nhàng, có sự cởi mở, có sự thanh thoát thì nhìn cái gì cũng thấy là Tịnh Ðộ cả. Vậy thì cần chi phải cầu về Tây phương Tịnh độ nhỉ ? Trong khi tâm ta lọan động lại cứ nhờ Thầy cầu nguyện cho bình an , an hay không là do ở tâm ta quyết định lấy chứ không ai có thể giúp ta an .

Than ôi ! Đức Phật Thích Ca mẫu mực vẹn toàn đã vức bỏ tất cả để thành tựu được ngày nay, một số Tu sĩ hành đạo lại chỉ muốn ôm giữ tất cả để phải mất tất cả thì làm sao mà Phật Giáo thoát cảnh suy tàn ?Một giáo lý cao đẹp chứa đầy tinh thần Từ Bi, Trí Tuệ, Vị Tha, Vô Ngã… mà ngày nay, một số người con Phật càng sống, càng hành đạo thì bản ngã như lại càng to, càng lớn, càng thích loạn ngôn và múa may trên sân khấu cuộc đời . Những màn mang danh nghĩa đấu tranh để có danh vọng , đựơc giải Nonel hoà bình , tiếng tăm lừng lẩy . Họ đựơc cái gì ? Phật giáo đựơc cái gì ? Xin quý Thầy lên tiếng thử xem . Danh làm gì , vọng làm gì khi mà tài sản , vật chất , địa vị ..... Ngài Thích Ca cũng vứt bỏ như đôi dép rách , thế mà ngay nay Thầy nào cũng ham muốn . Trong khi đó thiền định là lắng đọng vọng tâm , chúng ta nhận ra được tâm chân thật của chính mình, đó là mục đích của người tu Thiền. Như vậy người tu Thiền nhìn lại nội tâm mình chớ không cần hướng ra bên ngoài, còn người tu Tịnh độ thì trông về cõi Cực lạc bên ngoài, do đó không giống nhau. Tu Tịnh độ là đánh mất chân tâm vì tâm hoàn toàn ỷ lại và gởi vào uy lực Thần linh , Phật tổ , họ không còn tâm trí để nhận xét chân tâm của chính mình . Một sự ỷ lại do cầu nguyện để đựơc gia ân , cứu vớt . Thật là buồn cười trong khi đó Tịnh độ cũng biết về nghiệp , giảng Nghiệp quả là gì với chúng sanh . Có phải đó là hai đừơng tu hành nghịch lý nhau . Vừa tin A Di Đà Tây phương cứu độ vừa tin nhân nào quả nấy của Như Lai thì làm sao đây ?



************************************************** ****************************************


Người đi dấu vết chưa nhòa ,
Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng .
Tam sanh hẹn kiếp tao phùng,
Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông .


(Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang)

** Con xin họa lại bài thơ của Ngài :

Người về cùng nổi thương mong ,
Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây .
Tam tài hóa kiếp đạo dầy ,
Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng .

Hoa Sen .
Reply With Quote
(#15 (permalink))
Old
HoaSen's Avatar
HoaSen HoaSen is offline
Senior Member
Rep Power: 3
HoaSen is infamous around these parts
 
Posts: 702
Thanks: 1
Thanked 0 Times in 0 Posts
Join Date: Nov 2007
Mặc dầu HT Thanh Từ đặt nặng và tu theo Thiền Tông , những nhận xét và lý luận của Thầy về Tịnh độ con cũng đồng ý như vậy , khi Thầy giảng :

....tu Tịnh độ thì luôn luôn lấy niềm tin làm trên, nên người tu Tịnh độ phải có đủ Tín-Hạnh-Nguyện. Tín là lòng tin. Tin chắc có cõi Cực lạc, tin chắc mình niệm Phật sẽ được Phật đón về Cực lạc. Từ tin chắc, mới khởi hành tức cố gắng niệm Phật, gọi là hạnh. Niệm Phật rồi, phải phát nguyện sanh về cõi Cực lạc. Như vậy mới đủ Tín-Hạnh-Nguyện, trong đó lòng tin là bước đầu trên đường tu.


Nhưng con thưa cùng Thầy ! Tịnh độ chỉ chí tâm đảnh lễ cầu nguyện vãn sanh từ một ngày , hai ngày , ba ngày cho đến bảy ngày ...... nếu không có niềm tin thì làm sao chí tâm đựơc. Cho nên công thức của Tịnh độ giống như một định lý bắt buộc rồi " A + B = C ". Ở đây con muốn thưa với Thầy là vấn đề cầu nguyện và ĐỨC TIN có nằm trong giáo lý của Đức Bổn sư Thích Ca không? Con trộm nghĩ Ngài Thích Ca đã dạy " Con tự thắp đuốc lên mà đi " là ngụ ý Ngài dạy cái tinh thần ĐỘC LẬP và CẦU TIẾN đừng ỷ lại van xin ai . Trong khi Tịnh độ một mực phải cầu A Di Đà và các danh vị Phật khác mời được vãng sanh. Đó là thắc mắc và trăn trở lớn nhất trên đường học Phật của chúng con. Nếu nói rằng :Các con cứ theo kinh Phật dạy mà làm , không được suy nghĩ , nghi ngờ hay hỏi han gì cả. Khổ nổi chúng con cũng muốn thế , mà ngay mấy ông Moderator cũng bắt phải làm như vậy ,họ bắt buộc chỉ post kinh Phật chứ không được làm chính trị , bàn chính trị nơi này. Vì thấm nhuần giáo lý Thích Ca phải lấy GIỚI - ĐỊNH - TUỆ làm đầu , nên chúng con phải suy nghĩ và nhận xét kinh kệ và nhìn gương của quý Thầy nên suy xét trong lúc tu tập , chẳng thà bắt đầu óc con DỐT như họ . Các Thầy Quảng Độ , Hộ Giác thì có quyền đấu tranh làm chính trị , yêu cầu VC cho tự do tôn giáo , đảng CS bỏ độc tôn - Độc đảng . Vậy Thầy dạy cho con phải theo ai cho đúng đây?

Con nghĩ rằng chân lý của Ngài Thích Ca đã bị lòn lỏi , đánh đồng hơn 2500 năm nay chứ không phải đến bây giờ mới có. Không riêng gì Tịnh độ mà Mật tông hay các tôn giáo Cao Đài , Hòa Hảo , Long Hoa , Thanh Hải Vô Thượng Sư ....... đều dựa vào " ô dù " Thích Ca để lập ra nhiều giáo phái mới. Đã đành rằng , thời đại nào chân lý cũng có người tìm thêm , phương trời nào cũng có anh hùng , bậc giác ngộ xưng giáo chủ lập ra tông phái...... Đó là quyền của mỗi cá nhân miễn sao có tín đồ theo là được. Nhưng ở đây , những tông phái đó không tách rời độc lập mà họ cứ pha trộn và núp bóng Như Lai để phát triễn và tồn tại , đây là ĐIỂM đáng nói. Điều đáng buồn nhất các hoạt động của Phật Giáo trên các mặt thế trị bị rơi vào trong những cực đoan bên này, bên kia trong cái thế đối nghịch về chính trị như GHPGVNTN ,cũng do hoàn cảnh lịch sử phải theo chính quyền như GHPGVN và môi trường xã hội đang sống để rồi cuối cùng không tránh được cái thảm cảnh “gà nhà bôi mặt đá nhau " , kéo theo bao nhiêu Phật tử , phe phái chống đối mà quên con đường tu tập. Còn tệ hại hơn nữa là móc nối , liên lạc nhờ các thế lực ngoại bang , sẵn sàng làm tay sai bán nước sách động đấu tranh. Con nghĩ rằng những hình thức đấu tranh chính trị dựa vào ngoại bang là KHÔNG CHÍNH NGHĨA. Nếu cuộc đấu tranh vì Phật giáo như năm 1963 đứng lên chống đối sự đàn áp độc tài của Ngô Đình Diệm là chân lý , là đúng. Vì Phật giáo lúc đó không nương tựa dưới bóng cờ Quốc gia nào mà hoàn toàn phất cờ Phật giáo độc lập đấu tranh.

Không biết đến bao giờ quý Thầy mới rời bỏ chính trị , tức là xa lánh danh vọng , uy quyền thế tục. Chúng con cũng muốn bình an để tu hành trong chánh niệm , nhưng làm sao " nhứt tâm đảnh lễ " khi mà tiếng hô hào đình công , bãi thị hàng ngày hàng giờ cứ vang vọng bên tai. Mỗi lần online là thấy hai phe đấu đá , thậm chí chửi bới thô tục không còn một ngôn từ nào của những kẻ vũ phu , thất học được đem ra xử dụng không mệt mỏi. Ngay cá nhân Hòa Thượng cũng chưa quên chuyến đi thuyết pháp của Thầy ở Cali nửa đêm bị Đ Đ Thích Quảng Ba dẫn 50 Phật tử vào chùa VNQT tìm thầy đòi đánh.

Hôm nay nhân bài kêu gọi CS bỏ độc đảng , độc trị của HT Thích Quảng Độ nên con mới vô lễ trình bày ý kiến lên cùng Thầy. Con xin tịnh tâm và cũng yêu cầu quý thầy nào đang khuấy động đấu tranh nên dừng lại để cùng nhau đón mừng ngày Đức Phật Thích Ca Đản sanh 2553.


************************************************** ****************************************


Người đi dấu vết chưa nhòa ,
Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng .
Tam sanh hẹn kiếp tao phùng,
Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông .


(Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang)

** Con xin họa lại bài thơ của Ngài :

Người về cùng nổi thương mong ,
Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây .
Tam tài hóa kiếp đạo dầy ,
Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng .

Hoa Sen .
Reply With Quote
(#16 (permalink))
Old
HoaSen's Avatar
HoaSen HoaSen is offline
Senior Member
Rep Power: 3
HoaSen is infamous around these parts
 
Posts: 702
Thanks: 1
Thanked 0 Times in 0 Posts
Join Date: Nov 2007
Đối với HT Thích Nhất Hạnh , tuy chuyên tu về Thiền nhưng khi nói về Tịnh độ có phần tránh né. Tuy có sự chỉ trích nhưng chung chung và muốn hòa đồng với Tịnh độ kiểu đi hàng hai , không muốn mất lòng ai nhằm tồn tại vì lợi ích cá nhân . Ngay cả Kito giáo , Thầy cũng có bài " Phật và Chúa là anh em ". Về phương diện tình cảm , hòa khí thì không sao , nhưng về mặt bảo vệ chánh pháp , vì chân lý thì Thầy quả không xứng đáng là trưởng tử Như Lai. Chúng ta thử xem một đoạn thuyết pháp của Thầy Nhất Hạnh vễ cõi tịnh độ :

Nghe Pháp Mọi Thời

Sở dĩ gọi đó là cõi Cực Lạc là tại vì dân chúng ở đó có sự thực tập chánh niệm và vẫn thường được nghe pháp thoại. Nếu có sự chú tâm thì khi những con chim hót lên, ta cũng nghe được pháp thoại và pháp thoại này có đủ ba mươi bảy phẩm trợ đạo, là tứ niệm xứ, tứ như ý túc, tứ chánh cần, v.v.. Sang bên đó ta vẫn còn nghe pháp thoại như ở đây và cũng sẽ học những điều y hệt như ta đang được học trên cõi Ta Bà này, nghĩa là ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Chúng ta biết rằng đức A Di Ðà là một vị thầy. Ngay trong giây phút này ngài đang thuyết pháp. Ðức Bụt Thích Ca dạy:

"Từ đây đi qua phương Tây, cách khoảng mười vạn ức cõi Bụt, có một thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy có một vị Bụt tên là A Di Ðà, hiện đang thuyết pháp".


Bụt A Di Ðà đang thuyết pháp và những con chim bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, và cọng mạng... cũng đang thuyết pháp và giọng hót của những con chim đó rất hòa nhã. Những con chim đó thay phiên nhau hót, một ngày sáu lần (trú dạ lục thời). Ðó là công phu sáu thời. Ngày xưa trong sự tu tập người ta chia một ngày làm sáu phần gọi trú dạ lục thời. Trú là ban ngày, dạ là ban đêm. Khi hành trì phép sám hối của vua Trần Thái Tông thì chúng ta cũng sám hối sáu lần một ngày. Vua Trần Thái Tông sáng tác ra nghi thức sám hối này để tự hành trì, gọi là Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, tức là khoa nghi để sám hối sáu lần trong một ngày. Chia sáu thời trong một ngày đó là sự thực tập trong truyền thống. Những con chim này biết rằng dân chúng mỗi ngày đều thực tập sáu thời cho nên bắt đầu mỗi thời là hót lên, và trong khi chim hót lên thì ta nghe được tiếng pháp trong đó. Có thể khi chim hót thì đức A Di Ðà ngừng thuyết pháp và khi đức A Di Ðà thuyết pháp thì chim ngừng hót. Cũng có nghĩa là Bụt A Di Ðà và cả các loài chim, cây và gió khi nói chỉ có thuyết pháp mà thôi.

Chung quanh ta cũng đang có rất nhiều loại chim. Nếu sống trong chánh niệm và có định thì chúng ta cũng có thể nghe trong tiếng gió và tiếng chim có tiếng nói pháp. Tiếng nói pháp này có thể được xem như là tiếng nói pháp của đức Bụt A Di Ðà hay là của những con chim ở cõi Cực Lạc. Nếu có niệm và định thì tất cả những gì chúng ta thấy và nghe trong đời sống hàng ngày đều là những bài pháp thoại. Một chiếc lá rụng, một bông hoa nở, một con chim bay ngang hay một tiếng chim hót. Chúng đều là những bài thuyết pháp và người đang nói pháp là Bụt Tỳ Lô Giá Na, tức là Bụt pháp thân.

Chúng ta phân biệt ra ba thân của Bụt, tức là pháp thân, báo thân và hóa thân. Pháp thân là bản thể trong sáng bất sinh bất diệt. Báo thân là thân tướng tốt đẹp của những người đã tu học, đã tạo ra rất nhiều công đức. Và hóa thân hay ứng thân là cái thân bình thường của ta. Ðức Thích Ca cũng có một thân như vậy, gọi là ứng thân hay hóa thân. Khi đức Bụt Thích Ca ngồi ở trên núi Thứu mà thuyết pháp thì đó là ứng thân Bụt hay hóa thân Bụt đang thuyết pháp. ¬ng thân thì có khi ngủ, có khi thức dậy, có khi đi tắm, có khi đi ăn cơm. Còn pháp thân của Bụt thì lúc nào cũng có mặt để thuyết pháp. Vì vậy, nếu có chánh niệm thì chúng ta có thể nghe pháp bất cứ lúc nào trong tiếng gió, tiếng chim, trong khi cành trúc lay, bông hoa nở và người đang thuyết pháp là pháp thân của Bụt. ¬ng thân hay hóa thân của Bụt thì chỉ nói tiếng người, còn pháp thân có thể nói tiếng chim tiếng hoa, tiếng gió và tất cả mọi thứ tiếng. Ðoạn kinh này cho chúng ta biết rằng nếu có niệm và định thì chúng ta có thể nghe pháp trong khi chim hót, thông reo và hoa nở. Pháp chúng ta đang nghe đó là pháp nguyên thỉ, nghĩa là tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc... và phương pháp niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Kinh đại thừa này chuyên chở giáo lý nguyên thỉ. Trong cõi Cực Lạc, dân chúng thực tập pháp môn nào? Thực tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo và phương pháp niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Ta là thiền sinh giỏi thì đừng đợi đến giờ pháp thoại mới nghe thuyết pháp mà phải biết nghe pháp trong khi nhìn hoa nở, trong khi nghe thông reo, chim hót và khi nhìn trúc lay. Pháp thân của Bụt chưa bao giờ ngừng thuyết pháp. Trong bài Trường ca Avril tôi có viết một câu: "Bông hoa vẫn chưa ngưng lời hát ca. Câu đó cũng có nghĩa như vậy: pháp thân của Bụt vẫn đang thuyết pháp. Ở Việt Nam, trong thời chiến tranh Việt-Pháp, có một thi sĩ trẻ tên là Quách Thoại. Quách Thoại cùng với Trụ Vũ đã từng sống ở chùa Giác Nguyên. Quách Thoại chết trẻ, để lại một bài thơ rất hay là bài Bông Thược Dược:

"Ðứng yên ngoài hàng dậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu."

Bông thược dược đứng ở ngoài hàng rào và đang mỉm cười một cách mầu nhiệm. Có thể nhiều thiền sư cũng không làm thơ hay bằng thi sĩ trẻ này. Tại vì trong giây phút đó, thi sĩ may mắn tiếp xúc được với sự mầu nhiệm của bông hoa thược dược, thấy bông hoa thược dược là biểu hiện nhiệm mầu của pháp thân Bụt. Thấy bông hoa thược dược chưa bao giờ ngưng hát ca, chưa bao giờ ngưng thuyết pháp.

"Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu."

Ðứng trước một sự biểu hiện nhiệm mầu như vậy, tiếp xúc được với pháp thân của Bụt thì thái độ của ta chỉ là sụp lạy và cúi đầu trước bông hoa thôi. Tại vì bông hoa đó là pháp thân của Bụt. Năm 1966, trong khi đi diễn thuyết bên Úc, tôi có tá túc tại một tu viện Thiên Chúa giáo. Tôi đang ngồi ở ngoài sân cỏ thì có một bà sơ đem ra cho tôi một tách nước trà. Rồi bà rút lui để đi thỉnh chuông. Tôi ngồi yên trên bãi cỏ uống trà và làm được bài thơ Tiếng Gọi sau đây:

"Sáng hôm nay,
tới đây
Chén trà nóng
Bãi cỏ xanh
Bỗng dưng hiện bóng hình em ngày trước
Bàn tay gió
Dáng vẫy gọi
Một chồi non xanh mướt
Nụ hoa nào
Hạt sỏi nào
Ngọn lá nào
Cũng thuyết Pháp Hoa Kinh."

Vì ngồi đó và an trú được trong giây phút hiện tại, nên thấy một chồi cây xanh vẫy tay chào mình. Ðó là biểu tượng của pháp thân. Và khi thấy được sự mầu nhiệm đó rồi, ta nhận thấy rằng bất cứ nụ hoa nào, hạt sỏi và ngọn lá nào cũng đang thuyết pháp và đang thuyết pháp đại thừa, thuyết kinh Pháp Hoa.

Bàn tay gió
Dáng vẫy gọi
Một chồi non xanh mướt
Nụ hoa nào
Hạt sỏi nào
Ngọn lá nào
Cũng thuyết Pháp Hoa Kinh.

Bài thơ này, cũng như bài thơ của Quách Thoại, nói tới sự kiện pháp thân của Bụt hiện đang thuyết pháp. Nếu chúng ta chăm chú, sống có giới và có định thì chúng ta tiếp xúc được với pháp thân và được liên tục nghe thuyết pháp, chứ không phải cần bỏ băng giảng vào trong máy bấm một cái nút rồi mới được nghe. Chúng ta có thể nghe pháp bất cứ lúc nào. Ðọc đoạn kinh này, ta phải thấy được rằng ở cõi Cực Lạc, không những Bụt A Di Ðà đang thuyết pháp mà chim chóc, hoa lá đều thuyết pháp cả. Và ta có thể thấy rằng Bụt A Di Ðà cũng như chim chóc ở đây đều là biểu hiện của pháp thân. Chúng ta hãy cùng đọc lại:

"Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Cực Lạc kia, thường có nhiều loại chim đủ màu rất kỳ diệu như hạc trắng, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già và cọng mạng... Những con chim ấy, sáu buổi mỗi ngày, thường hót lên những thanh âm hòa nhã: trong giọng hót của chúng, người ta nghe được tiếng diễn xướng các pháp môn ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần... Dân chúng trong nước nghe được những pháp âm như thế đều nhiếp tâm trở về thực tập niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng."

Đọc lời văn - thơ thì nghe hay , êm tai , trôi chảy , nhưng thực chất không đem lại một điều trong sáng , niềm tin chân chính của Ngài Thích Ca đang bị trà trộn và đánh cắp. Kiểu giảng thi văn này là mộng tưởng không xác thực. Vì sao Thầy biết :"Sở dĩ gọi đó là cõi Cực Lạc là tại vì dân chúng ở đó có sự thực tập chánh niệm và vẫn thường được nghe pháp thoại. Nếu có sự chú tâm thì khi những con chim hót lên, ta cũng nghe được pháp thoại và pháp thoại này có đủ ba mươi bảy phẩm trợ đạo, là tứ niệm xứ, tứ như ý túc, tứ chánh cần, v.v.. " Cái thế giới đó Thầy đã đến chưa hay có ai đến và ghi chép diễn tả lại? Thế giới đó có sự sống của người , chim , cây quả như quả đất ta ở thì cũng chưa hẳn có cùng ngôn ngữ gì để thầy hiểu được và biết :"pháp thoại này có đủ ba mươi bảy phẩm trợ đạo, là tứ niệm xứ, tứ như ý túc, tứ chánh cần"
Rồi Thầy chắc mặp khi kể rằng bên đó cũng giống như địa cầu ta đang sống , nghĩa là cũng có người ăn ở , nghe pháp và Thầy biết chắc rằng A Di Đà cũng đang thuyết pháp :"Sang bên đó ta vẫn còn nghe pháp thoại như ở đây và cũng sẽ học những điều y hệt như ta đang được học trên cõi Ta Bà này, nghĩa là ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Chúng ta biết rằng đức A Di Ðà là một vị thầy. Ngay trong giây phút này ngài đang thuyết pháp" Với trí tuệ và học vị Tiến sĩ của Thầy tôi biết Thầy thừa sức hiểu kinh A Di Đà và các vị Phật được sáng tác từ các ông tổ Trung Hoa chứ chẳng có cõi Tây phương nào cả. Ngày nay Nga , Mỹ tốn bao nhiêu tiền bạc đã tìm được tinh cầu nào có sự sống như trái đất không? Thế mà Thầy và Tịnh độ quá rành rẽ cái thế giới vô hình Tây phương ấy. Nếu quý thầy giỏi và đúng sự thật hiểu biết có sự sống của tinh cầu nước Tây phương như thế thì tôi tin chắc Mỹ đã mời hay bắt cóc quý Thầy vào làm việc ở làng khoa học Nasa từ lâu rồi. Bây giờ Nasa mới đổ bộ Hõa Tinh thôi các thầy ạ , và thầy cứ xem đất đai trên đó có đẹp như kinh thầy giảng phịa ra không?



Một cảnh trên Hoả Tinh, hình ảnh gởi về từ tàu Phoenix.




vị trí của tàu Phoenix sau khi đổ bộ trên Hoả Tinh

Giáo lý của Ngài Thích Ca là chân thật , vì đạo của Ngài là đạo sự thật cho nên mới phát triễn và tồn tại đến ngày nay . Tại sao Tịnh độ và quý thầy đưa chuyện huyền ảo , mờ tưởng nhằm lừa gạt tín đồ như cái bánh vẽ trên trời mà ngay quý thầy cũng không giải thích được. Điều này không giúp gì cho chân lý Ngài Thích Ca tồn tại và phát triễn mà quý thầy , quý Tông phái đã đục phá nát bét giá trị đạo chân thật của Như Lai suốt 2500 nay.

Nhân ngày Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đản sanh , thị hiện giữa cảnh ta bà nay tuyên giảng sự thật thì không một lý do gì mà các tông phái mượn danh Ngài để che nắng che mưa phát triễn , phá hoại và bành trướng vì mục đích danh lợi và tiền bạc.


************************************************** ****************************************


Người đi dấu vết chưa nhòa ,
Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng .
Tam sanh hẹn kiếp tao phùng,
Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông .


(Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang)

** Con xin họa lại bài thơ của Ngài :

Người về cùng nổi thương mong ,
Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây .
Tam tài hóa kiếp đạo dầy ,
Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng .

Hoa Sen .
Reply With Quote
(#17 (permalink))
Old
HoaSen's Avatar
HoaSen HoaSen is offline
Senior Member
Rep Power: 3
HoaSen is infamous around these parts
 
Posts: 702
Thanks: 1
Thanked 0 Times in 0 Posts
Join Date: Nov 2007
Vì vấn đề cầu nguyện của Tịnh độ đã đưa đến sự hiểu nhầm đối với Tây phương gán cho đạo Phật là yếm thế , bi quan giữa cuộc đời . Điển hình là ông ROGER-POL DROIT trong bài "Phật giáo và hư vô chủ nghĩa " cho rằng :

Giờ thì chúng ta hoàn toàn quên lãng nỗi khiếp sợ xưa cũ này rồi. Tuy thế, ta tìm thấy nhiều chỉ dấu khác biệt về nỗi sợ hãi đó ở các triết gia Đức – Hegel, Schelling, Schopenhauer, Nietzsche và những người khác. Nó cũng để lại dấu vết nơi những người Pháp, từ Cousin cho đến Renouvier, xuyên qua Quinet, Taine, và Renan. Nói chung, dù hơn dù kém, họ đã đặt Niết bàn gần với hư vô, đã xem Phật Giáo như một thứ hư vô chủ nghĩa, đã gắn liền Phật Giáo với chủ nghĩa yếm thế. Có thể trưng dẫn hàng trăm thí dụ. Hégel, trong những phiên bản năm 1827 và năm 1830 của tác phẩm “Encyclopédie” (Bách khoa), trình bày ở đoạn 87: “Hư vô, mà những người theo đạo Phật tôn làm nguyên tắc của mọi sự, là mục đích tối hậu và cứu cánh tối hậu của mọi sự.” Trong “Lecons sur la philosophie de la religion,” ông giải thích rằng, đối với Phật Giáo, “con người phải tự biến thành hư vô”, thừa nhận “sự bình an vĩnh cửu của hư vô”. Tiếp đó, những triết gia xem thứ lý thuyết được truyền giảng bởi một người mà Edgar Quinet đặt tên là “Vị Chúa vĩ đại của cái không” (Le grand Christ du vide) là một thứ “chủ nghĩa cuồng tín hư vô”[1]. Riêng Ernest Renan thì kết luận rằng thứ tôn giáo không thể nhận thức được này “gán cho đời sống một mục tiêu tối cao là hư vô,” cái “bộ máy tạo khoảng trống trong tâm linh” này là chỉ dấu rằng có sự hiện hữu của một “giáo hội của hư vô chủ nghĩa”


Về tánh Không và hư vô có thể được hiểu như là đồng nghĩa. Lý Vô Thường không phải là giáo lý duy nhất của Đạo Phật. Vào thế kỷ thứ 6 trước Tây Lịch, một triết gia Hy-Lạp Herakleitos đã nói "Tất cả đều ở trong trạng thái biến đổi" (All is in a state of flux) hay "Mọi vật đều trôi chảy" nghĩa là vạn hữu đều bị chi phối bởi luật Vô Thường, biến đổi. Ông Rhys Davids cho rằng :

"Không có thực tại. Chỉ có biến đổi. Tình trạng của mọi cá thể đều bất định, tạm thời và chắc hẳn phải hủy diệt. Trong mỗi sinh cơ bao gồm những yếu tố vật chất và một chuỗi yếu tố tâm linh liên tục. Chính sự phối hợp giữa những yếu tố này đã tạo ra cá nhân.

Mọi người, mọi vật và cả Chư Thiên vì thế cũng là tập thành, duyên hợp. Và trong mỗi cá nhân, sự liên hệ giữa những phần tử tập thành luôn luôn thay đổi, không bao giờ tồn tại trong hai sát na liên tiếp. Khi một cá thể vừa mới tập thành thì sự phân tán cũng đã bắt dầu.

Không có một cá thể nào không tập thành, không một tập thành nào không thay đổi, không một thay đổi nào không dị biến, và không một dị biến nào lại không phân tán, hủy diệt, chu trình đó không sớm thì muộn cũng phải hoàn tất"
.

Và Roger-Pol Droit nói " Niết Bàn gần với hư không " như thế có đích xác không? Trước nhất ông ta phải hiểu thế nào là Niết Bàn theo quan niệm Phật giáo , nó không thể hiểu như một Thiên đàng trừu tượng của Kito giáo mà ông đang theo. Không riêng gì cá nhân ông mà chính ngay những người Phật tử chúng tôi đôi khi cũng có ý nghĩ về Niết Bàn. Cũng nhiều người hiểu Niết Bàn là cảnh tiên giới, vui đẹp có cuộc sống nhàn hạ không lo miếng ăn , cái mặc , không cần làm việc cực nhọc , hoặc nơi đó có nhạc vui, hoa thơm, cỏ lạ, nhiều ngọc ngà châu báu, có những ông Tiên nhàn rỗi đánh cờ, những nàng tiên xinh đẹp ca múa, rong chơi suốt ngày, không biết thời gian là gì. Cũng không có đàn áp bất công , sự nghèo khổ, lam lũ do việc làm , chẳng có gì bận tâm lo âu, vất vả, phiền muộn như ở thế gian. Chỉ khi nào chết, hương linh mới có thể đến đó được nếu quyết tâm niệm A Di Đà không ngừng nghĩ.

Thật là xa vời và ảo tửng khi mang những hoài niệm như vậy. Đối với tôi rất đơn giản , chữ Niết Bàn dịch từ âm của chữ “Nirvana” có nghĩa là ra khỏi rừng mê. Niết bàn là nơi thanh tịnh , không còn bận tâm chuyện hồng trần đầy si mê, tâm không còn chấp ngã , ngã mạn. Tóm lại Niết bàn là giải thoát, là bất sinh, là giác ngộ, là không còn luân hồi sinh tử. Như vậy không đợi đến sau khi chết con người mới có thể lên Niết Bạn nó ở đây : TẠI THẾ GIAN này , khi nào tâm bạn được thanh tịnh, tuyệt đối an lạc, tự tại là bạn đang ở Niết bàn , chỉ đơn giản thế thôi. Cho nên Roger-Pol hay các triết gia Đức – Hegel, Schelling, Schopenhauer, Nietzsche và những người khác mang nổi sợ hải . Nó cũng để lại dấu vết nơi những người Pháp, từ Cousin cho đến Renouvier, xuyên qua Quinet, Taine, và Renan cho rằng :"Niết bàn gần với hư vô, đã xem Phật Giáo như một thứ hư vô chủ nghĩa, đã gắn liền Phật Giáo với chủ nghĩa yếm thế" là hoàn toàn sai. Vì họ cứ nghĩ rằng Niết Bàn là nơi xa vời tận đâu đâu trên chín từng mây kiểu Thiên đàng. Họ không hiểu Niết Bàn của Phật giáo là kết quả của tâm và từ tâm mà có. Để rồi Roger-Pol đưa đến sự dẫn dụ sai lầm của một số học giả Tây phương họ vốn quen từ đạo Chúa mà lý luận và gán cho Phật giáo cũng như tôn giáo họ :

"Có thể trưng dẫn hàng trăm thí dụ. Hégel, trong những phiên bản năm 1827 và năm 1830 của tác phẩm “Encyclopédie” (Bách khoa), trình bày ở đoạn 87: “Hư vô, mà những người theo đạo Phật tôn làm nguyên tắc của mọi sự, là mục đích tối hậu và cứu cánh tối hậu của mọi sự.” Trong “Lecons sur la philosophie de la religion,” ông giải thích rằng, đối với Phật Giáo, “con người phải tự biến thành hư vô”, thừa nhận “sự bình an vĩnh cửu của hư vô”. Tiếp đó, những triết gia xem thứ lý thuyết được truyền giảng bởi một người mà Edgar Quinet đặt tên là “Vị Chúa vĩ đại của cái không” (Le grand Christ du vide) là một thứ “chủ nghĩa cuồng tín hư vô”. Riêng Ernest Renan thì kết luận rằng thứ tôn giáo không thể nhận thức được này “gán cho đời sống một mục tiêu tối cao là hư vô,” cái “bộ máy tạo khoảng trống trong tâm linh” này là chỉ dấu rằng có sự hiện hữu của một “giáo hội của hư vô chủ nghĩa”

Phật giáo là TĨNH không phải ĐỘNG như những tôn giáo khác. Trong cái Tĩnh của Từ Bi nhưng nó rất động của Đại Hùng và Đại lực khi cần chiến đấu vì hoàn cảnh bị áp bức hay cuộc sống thì nó vùng lên đó là Động , khi bình an thì trở về Tâm nó là Tĩnh . Một tinh thần mà Đức Phật đã dạy vì độc lập mà tiến lên "Con hãy thắp đuốc lên mà đi ". Cái tinh thần ấy không phải là yếm thế , tiêu cực. Chính nhờ trang bị lòng quả cảm này mà hầu hết Phật giáo nước nào dù bị trị rồi thời gian vẫn đứng dậy quật khởi dành độc lập tự tồn như Việt Nam ta.

Đối với Nietzche thì tố cáo :

Phật Giáo là nỗi “hoài vọng về hư vô”, là “sự phủ nhận tính minh triết của bi kịch”[1]. Ông thống trách sự “suy nhược ý chí” dẫn đến chỗ trốn chạy đau khổ, do đó, không cam chịu mà cũng không yêu thương đời sống, và đặc biệt phê phán niết bàn, tức là cái “hư vô đông phương,”

thì quả là quá đáng. Tôi tin rằng Nietzche , Hégel hay ai đó chưa chắc đã đọc và hiểu hết giáo lý Phật giáo. Ngay như những Tỳ kheo , Phật tử trí thức tu trì và khảo sát kinh Phật như Việt Nam cũng đã là khó vượt ra khỏi phạm trù từ chữ Hán , Pali qua nghĩa chữ Quốc ngữ.

Phật Giáo chẳng khác gì là một “phủ nhận toàn diện thế giới” như Nietzche phán đoán. Nếu như thế thì sau khi đạt đến giác ngộ cao nhất Đức Phật Thích Ca đã không rao giảng giáo lý giải thoát 49 năm cho nhân loại , để ngày nay chúng ta thừa hưởng một gia tài giáo lý siêu việt như là một chân lý bất biến mà ngay cả khoa học cố gắng soi rọi , bới móc , tìm tòi vẫn không tìm được một nghịch lý nào của Phật giáo. Đến độ nhà bác học nổi tiếng nhất thời đại người Anh Albert Eistein phải ca ngợi :

“Nếu có một tôn giáo nào có thể đối mặt được với những nhu cầu khoa học hiện đại thì đó chính là Phật giáo”.

Từ sự không thấu đạt được sự thâm sâu giáo lý cho đến bị mắc cạn , nghèo nàn khi khảo sát kinh điển thiếu hiểu biết ngôn từ , nên Garcia Ayuso người Tây Ban Nha công bố một tập sách nhỏ nhan đề :

“Cõi niết bàn Phật Giáo và những tương quan của nó với các hệ thống triết học khác” (Le nirvana bouddhiste et ses relations avec d’autres systèmes philosophiques) – tức là các hệ thống tư tưởng của Schopenauer và của von Hartmann. Ông viết “Đạo đức và siêu hình của Thích Ca quá nghèo nàn và các lý thuyết của ông ta là quá lạt lẽo và nói chung, quá thiếu nền tảng đến nỗi sự truyền bá giáo lý mạnh mẽ của ông ta chỉ có thể thực hiện được ở nơi các dân tộc đã suy đồi.”

Sự thật bối rối về tư tưởng do Phật Giáo gây ra tại Âu Châu thế kỷ thứ 19, thì hư vô chủ nghĩa hóa ra là sợi chỉ dẫn đường đáng tin cậy vào thời điểm ấy . Họ cố gắng xoay quanh vấn đề hư vô và những ý nghĩa khác nhau của nó đã hình thành nên cơn mộng dữ mà Phật Giáo đóng vai trò trung tâm đã qua đi . Ngày nay ở thế kỹ 21 này Phật giáo đã ăn sâu và đi vào tận sân sau của Âu Mỹ như là một hào quang sáng ngời , cháy sáng , tĩnh thức nhiều tâm hồn các học thức , trí giả Tây phương. Có thể có những lúc họ đọc kinh của Đại Thừa như Pháp Hoa , Sám hối , cầu nguyện..... làm đầu óc họ liên tưởng đến một cái gì bi quan , yếm thế và an phận của Phật giáo. Ngày nay hệ thống thông tin điện tử bao trùm đã khai sáng cho họ qua các kinh điển A Hàm , Trung bộ..... những bộ kinh lớn từ Nguyên Thũy giữ đúng lời Đức Phật giảng dạy , từ đó họ đã nhận thức , so sánh đâu là sự thật , đâu là chân lý từ Thích Ca.


************************************************** ****************************************


Người đi dấu vết chưa nhòa ,
Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng .
Tam sanh hẹn kiếp tao phùng,
Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông .


(Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang)

** Con xin họa lại bài thơ của Ngài :

Người về cùng nổi thương mong ,
Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây .
Tam tài hóa kiếp đạo dầy ,
Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng .

Hoa Sen .

Last edited by HoaSen : 05-07-2009 at 11:45 PM.
Reply With Quote
(#18 (permalink))
Old
HoaSen's Avatar
HoaSen HoaSen is offline
Senior Member
Rep Power: 3
HoaSen is infamous around these parts
 
Posts: 702
Thanks: 1
Thanked 0 Times in 0 Posts
Join Date: Nov 2007
Hôm nay tôi nhận một Pm của một bạn nữ ( tạm dấu tên ) hỏi :

" Theo bạn cho rằng : ....... Niết Bàn nó ở đây : TẠI THẾ GIAN này , khi nào tâm bạn được thanh tịnh, tuyệt đối an lạc, tự tại là bạn đang ở Niết bàn , chỉ đơn giản thế thôi . Vậy Đức Phật lúc nhập diệt còn gọi là " nhập Niết Bàn " thì Ngài đâu còn thân , tâm để thanh tịnh ? Phật giáo tin có linh hồn không? Thế nào là linh hồn? Mong bạn nhín chút thời gian trả lời . Cám ơn " .

Đây là một câu hỏi thông minh và hay . Tôi xin tạm giải đáp thế này :

Phật giáo không cho là có linh hồn , riêng đối với thân của chúng ta là một cấu hợp của tứ đại chủng ĐẤT - NƯỚC - GIÓ - LỮA , nó luôn luôn chuyển biến không ngừng thì những tác dụng tinh thần kia cũng hợp thành một dòng liên tục luân chuyển biến động không ngừng. Chúng thay đổi mới từng giây phút , từng sát na ; thân xác trong giờ phút trước cũng khác thân xác giờ phút sau . Riêng dòng tâm lý cũng luôn luôn biến động. Mỗi sát na có những cảm giác mới, những ý nghĩ mới, đến thay cho những cảm giác và những tư tưởng cũ đang phai dần hay quên lãng như đang nép sâu vào ký ức của tiềm thức các chủng tử . Vì vậy đoạn nầy trong kinh "Di Lan Ðà vấn đạo" có viết :

"Nầy Ðại Vương! Nếu có người thắp một ngọn đèn lên, ngọn đèn có thể cháy suốt đêm được không?"

--"Bạch Ngài, ngọn đèn có thể cháy đến sáng".

"Vậy ngọn lửa đèn lúc canh một có phải chính là ngọn lửa đèn lúc canh hai không? "

--"Bạch Ngài, Không ".

"Ngọn lữa lúc canh hai với ngọn lữa lúc canh ba có phải là một không?"

--"Bạch Ngài, cũng không phải".

"Vậy thì canh một có một cây đèn, canh hai có một cây đèn khác, và canh ba có một cây đèn khác nữa chăng? ".

--"Bạch Ngài, không. Ánh sáng suốt đêm chỉ do một cây đèn mà tỏa ra thôi ".

"Ðại Vương! Sự liên tục của một người hay một vật cũng vậy. Con người của phút nầy sinh, thì con người của phút trước diệt, dòng liên tục không ngừng. Con người phút sau không phải là MỘT với con người phút trước, nhưng cũng không phải là KHÁC với con người phút trước. Như thế, con người liên tục mãi cho đến giai đoạn cuối cùng của ý thức bản ngã".


Nhưng tại sao có những mẫu chuyện luân hồi trong Phật giáo ? Như câu chuyện Ngài Chí Công ở triều đại nhà Lương ở Trung Hoa biết được chuyện quá khứ vị lai là nhờ Ngài đã đạt được ngũ nhãn và lục thông. Nên chỉ cần nhìn qua, liền biết được ngay kiếp trước .
Một hôm, có một gia đình giàu có thỉnh Thiền sư đến tụng kinh chú nguyện nhân dịp đám cưới người con gái của họ, đồng thời thỉnh Thiền sư ban cho vài lời chúc mừng để mong rằng trong tương lai, việc hôn nhân đều được tốt lành như ý. Thiền sư Chí Công đến nhà ấy, khi nhìn thấy cô dâu chú rể, Ngài liền nói:

“Thật cổ quái, thật cổ quái!”
“Cháu cưới bà nội”


“Thật cổ quái” nghĩa là xưa nay chưa từng có một việc như vậy. Đây không phải là chuyện xưa nay thường xảy ra. Thật kỳ lạ khi nhìn một đứa cháu cưới bà nội mình làm vợ. Trên thế gian này, nếu không thông đạt những nhân duyên trong thời quá khứ thì không thể nào lý giải được những mối quan hệ cha con, mẹ con, vợ chồng, anh em, bè bạn… của nhau. Vì sao? Vì mọi người đều có thể là chồng hoặc vợ của nhau trong đời trước. Một người có thể là cha hoặc là con của nhau trong nhiều đời trước. Hoặc một người đều là mẹ và con gái của nhau trong đời trước. Ông nội của quí vị trong đời trước lại kết hôn với cháu gái của quí vị trong đời này. Hoặc là bà ngoại đời trước lại tái sinh làm con gái của quí vị. Tất cả mọi việc đều có thể xảy ra, và đều chịu sự biến hóa khôn lường.

Trong nhà này, chuyện “cháu cưới bà nội” là do trước kia, khi bà nội sắp mất, bà trăn trối lại với toàn gia quyến: “Con trai ta vừa mới cưới vợ và đã có con nối dòng. Con gái ta cũng đã có chồng, ta không còn bận tâm gì nữa”. Bà ta hoàn toàn thỏa mãn và đã gạt mọi sự bận tâm qua một bên, ngoại trừ một điều: còn đứa cháu nội, “tương lai rồi sẽ ra sao? Ai sẽ chăm sóc nó? Liệu người vợ của nó có đảm đang hay không? Ta không thể nào không lo cho nó được!”

Bà nắm tay đứa cháu nội và qua đời. Người ta bảo rằng nếu mọi việc đều toại nguyện, lúc lâm chung có được tâm trạng thơ thới thì người chết sẽ nhắm mắt. Còn nếu không, thì người chết không nhắm mắt được. Bà lão nói: “Bà rất lo lắng cho cháu, bà chết không nhắm mắt được”. Nói xong, bà ra đi mà mắt vẫn mở. Thần thức của bà vẫn còn lo âu. Khi đến gặp Diêm vương, bà ta than khóc, thưa rằng:

- Tôi còn đứa cháu nội, không ai chăm sóc nó.
Diêm vương đáp:
- Được rồi, bà hảy trở lại dương gian chăm sóc cho nó

Nói xong, bà ta được đầu thai trở lại trong cõi trần. Khi đến tuổi thành hôn, bà ta lấy người cháu nội trước đây của bà ta. Vì vậy nên nói “cháu lấy bà nội”. Quí vị thấy có phải là cổ quái thật không?

Chỉ vì một niệm ái luyến không buông xả được mà tạo nên biết bao duyên nghiệp buộc ràng về sau. Bà ta chỉ vì bận tâm vì đứa cháu, mà về sau phải làm vợ cho nó. Quí vị thử nghĩ lại xem, đây chẳng phải là chuyện cổ quái hay sao?

Vậy thì chuyện đầu thai đó có phải do linh hồn từ một thân xác này qua làm một thân xác khác không ? Nếu không có một bản ngã bất biến hay một linh hồn thì cái gì đi luân hồi, cái gì đi đầu thai, cái gì làm chủ thể cho dòng sinh tử luân lưu ấy ? Trong Phật giáo không công nhận có linh hồn, do đó không có chuyện linh hồn di chuyển đi đầu thai . Ðạo Phật chỉ chủ trương có nhân quả (Patica Samuppada) nghĩa là một hậu quả nào phát sinh cũng phải đi từ nguyên nhân trước đó .

Con ngừơi khi đời sống chấm dứt nếu dục vọng cũng tiêu diệt hết thì vô minh không còn hiện hữu và các chủng tử đã trở thành vô lậu. A Lại Gia trở về thể nhập với bản thể sáng suốt, thì dòng sinh mạng không còn tiếp diễn nữa đó là trường hợp của Đức Bổn Sư Thích Ca không còn tái sanh và luân chuyển qua nghiệp khác , tâm Ngài đã an lạc , thanh tịnh đó là cảnh Niết Bàn Ngài đã nhập .Cũng ví như câu chuyện bà nội lấy cháu ở trên , vì tâm bà nội lúc chết vẫn còn lo lắng không ai chăm sóc đứa cháu , như vậy tâm bất an thì làm sao thấy Niết Bàn đựơc nói chi chuyện nhập . Như chúng ta vì dục vọng vẫn còn, thì A Lại Gia còn nằm trong trạng thái ô nhiểm, chưa có thể giải thoát luân hồi được. Do đó, dòng sinh mệnh phải được tiếp nối từ trạng thái này qua thân xác nọ .

Giòng sinh mệnh của con người ví như một đốm lữa que hương , nếu quay nhanh thì nó trở thành một vòng lữa . Cũng vậy , ta nhìn những đợt sóng biển liên tục , nó không phải do nhiều con sóng mà do một sức đẩy ở sóng sau tạo ra sóng trước . Ðợt sóng nầy lên rồi xuống, và khi xuống, tạo thành một sức đẩy mới cứ tiếp tục như thế nên ta tưởng có nhiều con sóng . Do sức sóng đẩy mà đàng xa kia phát sinh một đợt sóng khác: chính đợt sóng khác ấy là kết quả của đợt sóng nầy, tiếp nối do đợt sóng nầy tạo ra . Cũng vậy , giai đoạn sinh mệnh trước tạo nghiệp nhân mê lầm sinh tử cho giai đoạn sinh mệnh sau; giai đoạn sinh mệnh sau tạo nghiệp nhân cho giai đoạn sinh mệnh sau nữa, và cứ như thế tiếp tục mãi mà ta tưởng là linh hồn đi đầu thai .

Tất cả nghiệp lực của chúng ta đều trở về tạm trú trong A Lại Gia thức của chúng ta, không hề mất đi đâu cả. Chúng tạo thành một động lực, gọi là NGHIỆP LỰC , đẩy chúng ta vào một giai đoạn sinh mệnh mới, một kiếp sống mới mà chúng ta cho là linh hồn đi đầu thai như một số câu chuyện luân hồi .

Trở lại câu hỏi . Đức Phật tịch diệt tức là nhập Niết Bàn , nghĩa là tâm Ngài vốn đã thanh tịnh , trong sạch thì A Lại Gia thức của Ngài hoàn toàn trong sáng , không còn vẫn đục chuyện khổ đau , vui , buồn , hờn giận ......... đó là Ngài đang ở Niết Bàn chứ không còn gì phải nhập . Trái lại tâm chúng ta , dù chết đi vẫn còn lo nghĩ , còn vấn vương thù hận , tham đắm sân si , dục vọng cứ vương vấn , đeo đuổi thì chúng ta chưa thấy Niết Bàn chứ đừng mong mà nhập . Chuyện đơn giản thế thôi . Mong chị thỏa mãn phần nào .




************************************************** ****************************************


Người đi dấu vết chưa nhòa ,
Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng .
Tam sanh hẹn kiếp tao phùng,
Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông .


(Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang)

** Con xin họa lại bài thơ của Ngài :

Người về cùng nổi thương mong ,
Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây .
Tam tài hóa kiếp đạo dầy ,
Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng .

Hoa Sen .
Reply With Quote
(#19 (permalink))
Old
HoaSen's Avatar
HoaSen HoaSen is offline
Senior Member
Rep Power: 3
HoaSen is infamous around these parts
 
Posts: 702
Thanks: 1
Thanked 0 Times in 0 Posts
Join Date: Nov 2007
Nhân chuyến đi Houston Texas tôi thấy phái Long Hoa do giáo chủ Trương Quang Tuệ thủ lãnh đang thịnh hành tại đây. Vì vậy tôi tạm ngưng chuyện Đại Thừa Tịnh Độ để bàn sơ về tà phái này dựa vào đạo Phật Thích Ca để làm suy giảm uy tín của Phật giáo. Long Hoa về cách tu hành và tổ chức cũng như giáo điều làm tôi nhớ lại ngày 19-4-1993 khi trại Waico bị cơ quan an ninh FBI đến bao vây , đột nhập nên giáo chủ David Koresh liền cấp tốc phản ứng, chống đối , họ dùng súng máy và lựu đạn kháng cự đến hơn ba ngày đêm . Cuối cùng lực lượng an ninh FBI bao vây chắt chẽ, giáo chủ David Koresh biết khó thoát khỏi tội lên ghế điện liền phóng hoả, thiêu sống hết toàn bộ tín đồ 80 người , gọi là hy sinh để về thiên đàng . Trong đó cả đàn bà, con gái và trẻ em mà một số là vợ con của David , nhiều trẻ gái vị thành niên cũng đã làm vợ của đấng cứu thế, giống y hệt như giáo chủ Trương Quang Tuệ thủ lãnh nhóm Long Hoa.

Việc đánh phá Phật giáo về mặt nổi thì phái Long Hoa ra lịnh cho tất cả đệ tử phải bỏ công hết sức tìm kiếm, thu thập các tượng Phật, hình ảnh và chữ viết nói đến Phật. Thậm chí, gặp một tờ giấy nhỏ nào viết một chữ Phật cũng phải gom lại, đem về trao cho Giáo chủ hay sư cô Bất Nhị tiêu hủy. Còn các tượng Phật thì có thể tân trang hay sơn phết lại bán lấy tiền. Đây là một hành động tiêu hủy văn hóa không cho lưu hành lời giảng , hình ảnh , kinh Phật dạy vì họ muốn bắt toàn dân phải tôn thờ độc nhất một thần tượng là giáo chủ Trương Quang Tuệ rất sành tâm lý những người u mê, dễ bị nhồi sọ. Tâm lý và hành động này nhằm mục đích “vô tri bất mộ” (không biết, không kính ngưỡng). Người Tây phương có câu : ”Loin des yeux, loin du coeur” (xa mặt, cách lòng). Không gặp nhau lâu ngày sẽ quên , đó cũng là chính sách tàn sát và tiêu diệt văn hoá , đền thờ mà đạo Chúa , nhất là Hồi giáo đã hành động hơn hai thế kỷ nay.

Giáo lý Ngài Thích Ca là giải thoát chính là đạo chân thật,toàn bộ giáo lý Phật đặt trên cơ sở thực tế, khoa học và mang tính vô thần nguyên thủy cho nên không có chuyện dùng bùa ngải, không nên tin chuyện thần tiên hoang đường, không bói toán, không cần xem ngày, giờ, phương hướng tốt xấu, không cúng bái , cầu an , cầu siêu , sám hối …

Theo tài liệu sưu tầm , điều tra chính xác , ông Đặng Văn Nhâm đã viết những chủ trương và điều luật của nhóm Long Hoa như sau :

Nhưng ngược lại, tà phái ma giáo Long Hoa ban hành giáo chỉ cho toàn thể Chân Hoa Tử tóm tắt như sau:

- Cấm tuyệt đối không một ai được nói đến những từ có tính cách tục tĩu, xui xẻo, hắc ám như: CHẾT, MA, CU, hay MẶT TRĂNG v.v… Thí dụ: không một ai được phép nói đến tên các hiệu xe, hay bất cứ một địa danh nào trên thế giới đọc lên có “ÂM” của mấy chữ đó. Thí dụ: Mút- Cu- Va (Moskova), Cuba, Massasuchette, Oklahoma… Các hiệu xe: Mazda, Honda Acura, Yamaha… Đặc biệt phải cữ kiêng không được nói hay nhắc nhở đến mặt TRĂNG, vì mặt TRĂNG chỉ về ban đêm, tức tối tăm, u ám, không minh bạch, không sáng sủa, đẹp đẽ v.v…

- Ngoài ra, tà phái ma giáo Long Hoa còn ra qui luật cấm các Chân Hoa Tử không được mặc quần áo các màu đậm như: đen, xanh nước biển, tím than v.v…Hằng ngày, mỗi khi muốn đi đâu phải coi ngày, coi giờ. Nếu ngày tốt, giờ tốt mới được xuất hành. Chưa đủ! Xuất hành còn phải coi phương hướng, xem hướng nào là hướng tốt trong ngày đó.


Cũng giống như những tông phái khác , Long Hoa chỉ núp bóng đạo Phật để tung hoành, nhân danh Phật, chủ trương tu theo NHẤT THỪA nhằm tôn vinh cá nhân hầu dễ bề trấn lột những kẻ nhẹ dạ , ngu muội mang danh Phật tử. Chúng tạo ra một võ ốc được bọc chiếc y vàng của Đức Phật hay đầu cạo trọc , mang hình ảnh từ bi , đạo hạnh của tăng ni , để rồi bắt Phật tử hầu hạ , cung phụng còn hơn vua chúa. Tôi đã tham gia và tận mắt thấy những điều này tại các chùa hải ngoại. Muốn cung thỉnh các Tỳ kheo , Tỳ kheo ni đến dự lễ bắt buộc phải bao vé máy bay , chỗ ăn ở. Sau khi trở về phải có bì " cúng dường " thường được định giá từ 1.000 đô đến 500 hay 300 theo chức vụ cao dày đức trọng của từng Thầy . Nếu những chùa vào Liên hữu thì thùng phước sương chia ba :

1- Một phần để chi phí sinh hoạt chùa.

2- Một phần chia cho thầy trù trì.

3- Một phần gởi về thầy Viện chủ trưởng ban Liên hữu.

Sau này có nhiều Thầy sáng kiến để thủ lợi là : Tiền cúng dường vô danh là của Viện chủ , còn tiền có ghi " cúng dường tam bảo " thì chia hai với nhau. Sở dĩ có vấn đề nay vì Thầy Viện chủ thấy tiền cúng vô danh lúc nào cũng nhiều hơn. Ví dụ : Khui thùng phước sương 3.000$ thì trong đó vô danh 1.800$. Như vậy Thầy được phần vô danh nhiều hơn 1/3 chia đều. Có nhiều chùa chìa khóa thùng phước sương do một tay Thầy trù trì lấy tất cả , điều này cũng áp dụng chặc chẻ trong Long Hoa. Đây là những sự thật mà cá nhân tôi mắt thấy tai nghe. Nhưng khi đọc điều này hay khi nói ra thì không thiếu những Phật tử tay chân , hoặc không biết nội vụ , liền bênh vực , chửi bới không tiếc lời , còn trên net thì họ đòi banned , xoá bài....... thực tế là như vậy. Ngoài ra còn chụp mũ là VC nằm vùng , phá đạo hay mạ lỵ không còn thiếu một ngôn từ nào.Những việc làm và hành động ngu muội , dại dột này đã làm hại thầy chùa và là nguyên nhân cốt lõi đã khiến cho uy tín của Phật Giáo bị đắm chìm trong u tối vốn đã và đang bị nội công ngoại kích phá thối.

Người Phật tử dễ bị đánh lừa khi giáo chủ nào tự cho là hiện thân từ Phật , Thần thánh đến từ cỏi trời , kèm theo vài xảo thuật phép lạ , vài câu sấm rền phỏng đoán tương lai nhằm hù doạ diệt vong mới đẩy những Phật tử đến nương tựa , van xin. Ví dụ :giáo chủ Long Hoa tự phô trương là bậc đại thánh nhân giáng phàm từ cung trời thứ chín, trang bị đủ thiên lý nhãn, thiên lý nhĩ, có thể biết được mọi chuyện quá khứ vị lai trong khắp cõi đại thiên tam thiên thế giới. Hơn thế hắn còn có khả năng thần thánh biết được mọi tai hoạ sắp xảy ra, giải trừ được mọi nghiệp chướng, độ được chúng sinh, đặc biệt dành cho các Chân Hoa Tử. Kẻ nào cúng dường nhiều tiền sẽ được thầy “giải nghiệp và cứu độ” cho vượt thoát khỏi được mọi tai ách, hoạn nạn bất ngờ . Điều này cũng không thiếu ở mấy chùa do một số Thầy thoái hóa , phá đạo Phật bắt Phật tử cúng tiền cầu an , trả tiền lễ giải sao hạng , các nhà thờ đạo Chúa còn nghiêm khắc hơn là phải đóng 10% tiền lương hay góp tiền hàng tháng bắt buộc . Đây là một hiện tượng chung của thời đại cần tiền để các tu sĩ sinh sống và tồn tại dựa trên đức tin mù quán của con người. Muốn diệt những tệ nạn này không gì hơn là trang bị một TRÍ TUỆ , điều mà Đức Phật Thích Ca giảng dạy rõ ràng. Không ai giải thoát cho ta chính bản thân của ta.


************************************************** ****************************************


Người đi dấu vết chưa nhòa ,
Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng .
Tam sanh hẹn kiếp tao phùng,
Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông .


(Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang)

** Con xin họa lại bài thơ của Ngài :

Người về cùng nổi thương mong ,
Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây .
Tam tài hóa kiếp đạo dầy ,
Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng .

Hoa Sen .
Reply With Quote
(#20 (permalink))
Old
HoaSen's Avatar
HoaSen HoaSen is offline
Senior Member
Rep Power: 3
HoaSen is infamous around these parts
 
Posts: 702
Thanks: 1
Thanked 0 Times in 0 Posts
Join Date: Nov 2007

LONG HOA CÓ PHẢI “PHẬT GIÁO” KHÔNG?

Theo tôi nhận xét , đọc các tài liệu thì Long Hoa tuyệt nhiên không hề dính dáng gì đến Phật Giáo, không liên hệ , ảnh hưởng gì với giáo hội PGVNTN, hay giáo hội Ấn Quang ở trong nước . Chúng chỉ dùng duy nhất một cái tên “Long Hoa đệ nhị hội”, để lừa gạt đám Phật tử nhẹ dạ , khiến họ lầm tưởng đó là tổ chức có trong Phật giáo . Cách tổ chức và hành xử có tính cách chống báng kịch liệt và bôi bẩn từ Đức Phật đến giáo lý và toàn thể tăng đoàn . Lề lối tổ chức giáo hội hoàn toàn riêng biệt , sinh hoạt khác hẳn với tổ chức giáo hội Phật giáo . Trương Quang Tuệ là giáo chủ của Long Hoa Hội , tự xưng Đại Bồ Tát, Thánh Minh Vương Phật, cuối cùng tự phong, và tự suy tôn lên làm CỔ PHẬT ( sư tổ của Phật ).

Các hàng giáo phẩm cao cấp được mang tên là HUYNH. Còn đệ tử được giáo chủ thu nạp trong một lễ qui y và không phải xuống tóc cạo trọc , được gọi là CHÂN HOA TỬ, không dùng danh từ Phật tử như Phật giáo.
Khi thọ giới qui y các Chân Hoa Tử phải làm tờ tự khai gọi là sám hối, ghi lý lịch và tự thú hết mọi tội lỗi trong quá khứ, ký tên giao nạp giáo chủ nắm giữ.

Đối với y phục các Chân Hoa Tử , các Huynh đều phải dùng toàn màu trắng, hay màu xanh lơ , không được mặc màu đen hay màu nâu, màu vàng nghệ như Phật giáo . Riêng giáo chủ mặc áo màu vàng như các vua chúa ngày xưa.

Đạo Phật Thích Ca là một đạo chân thật , trí tuệ và nhắm đến con đường giải thoát khổ đau bằng chính bản năng và sức lực trong tinh thần độc lập , tinh tấn tiến lên. Chứ không cầu nguyện , van xin như Đại thừa - Tịnh độ. Đạo Phật không phải là đạo cứu rỗi , ban ơn , gián họa cho bất cứ một ai. Tinh thần " Ai tu nấy hưởng , ai ăn nấy no " là một chân lý trong sáng , rõ ràng và đầy khoa học. Đức Phật chỉ là vị lương y tùy bệnh mà cho thuốc , Ngài dạy cho chúng sanh tìm ra nguyên nhân căn bệnh và cách tự chữa trị lấy căn bệnh khổ não, phiền trược của mình. Đức Phật như người chỉ đường ngay, lẽ phải cho bá tánh. Ngài đã dạy :" Ngón tay ta chỉ ánh trăng , đừng tưởng ngón tay ta là ánh trăng ". Cho nên ai muốn tìm đường giải thoát , đạt đến cõi Niết Bàn thì chính nó là đang ở cùng họ , nghĩa là Phật tại tâm , Niết Bàn chính ở thế gian này. Tự mình tu và bước tới , Đức Phật không cầm tay dắt đi hay cứu vớt ai về cõi Niết Bàn , dù có niệm danh hiệu Ngài hàng ngàn lần , hàng chục năm cũng thế thôi , Ngài không hứa hảo huyền như A Di Đà , Quán Âm , Dược Sư v.v....... Một bằng chứng thật tế , ngay cả thân nhân quyến thuộc và vợ con của Ngài cũng không tài nào độ được. Ai muốn đạt đạo giải thoát khổ đau , phải tự tu, tự chứng lấy bản thân. Không cầu cạnh, trông cậy gì được nơi Ngài. Giống như trường hợp khi giòng họ Thích bị kẻ thù tiêu diệt diệt, đạo Phật bị đạo Bà La Môn , bọn cuồng tín Hồi giáo đánh bật gốc ra khỏi Ấn Độ Ngài cũng không làm sao giải nghiệp oan khiên này được.

Giáo chủ Long Hoa chỉ là tên bịp bợm như những hiện tượng Osho , Thanh Hải Vô Thượng Sư và mới đây là Thích Chơn Quang...... Ông ta lưu lạc từ Việt Nam sang đến đảo Hawaii, nay trụ chốt ở Houston. Với nghệ thuật dối trá , xảo ngôn ông ta từng vỗ ngực tự khoe khoang có khả năng cứu độ ,giải nghiệp cho tất cả mọi chúng sanh. Các Chân Hoa Tử thường gọi giáo chủ của họ có tài thần thông , biến hóa hơn cả Đức Phật, nhờ có nhiều loại bùa phép tuyệt đỉnh.

Trước giờ nhập diệt , Đức Phật đã gạn hỏi các đệ tử nhất là Ngài A Nan còn hỏi thêm gì không. Đức Phật lo lắng , khắc khoải , ưu tư rất nhiều về vấn đề này chân lý của Ngài sẽ bị mai một hay bị lái sang một con đường tà đạo khác , giáo lý của Ngài quá cao siêu mầu nhiệm , thâm sâu, rất dễ bị đám đệ tử sau này vô tình hay cố ý diễn dịch , thêm bớt nhiều sai lầm. Điều Ngài lo lắng và tiên tri ngày nay đã xảy ra rất nhiều như Tịnh độ , Mật tông , Long Hoa , Thanh Hải , Chơn Quang....... Cũng có thể do trí tuệ nông cạn, hoặc do mưu đồ tà đạo của tập thể , cá nhân mà làm ra những hành động đảo điên như ngày nay. Vì vậy Ngài đã phải phủ nhận ngay chính đạo lý của mình bằng lời nói : ”Ta thuyết Pháp trong suốt 49 năm, song chưa hề nói một lời nào!”. Câu này mang nhiều ý nghĩa thâm sâu , nhưng ngày nay đang bị diễn dịch sai lầm và xuyên tác của ngoại đạo lẫn con cái của Ngài.

Thật tế đã xảy ra đúng như thế , sau khi Phật vừa viên tịch chưa đầy 100 năm , các tông phái như Đại thừa , Mật tông đã tung ra vô vàn luận giải kinh điển khác nhau. Kẻ chủ trương Không Bộ, kẻ theo Hữu Bộ, người theo chủ nghĩa Duy Thực, người theo lối Duy Tâm , hàng chục tông phái như Đại thừa , Tiểu thừa . Từ đó đạo Phật đã đẻ ra muôn vạn pháp môn và nhiều tông phái khác nhau… Song phái nào cũng nhân danh Thích Ca làm ô dù để bành trướng và tồn tại.




************************************************** ****************************************


Người đi dấu vết chưa nhòa ,
Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng .
Tam sanh hẹn kiếp tao phùng,
Tôn phong Tổ ấn gửi cùng non sông .


(Pháp sự khoa nghi-Thích Huyền Quang)

** Con xin họa lại bài thơ của Ngài :

Người về cùng nổi thương mong ,
Bát y vàng ánh đạo lòng vững xây .
Tam tài hóa kiếp đạo dầy ,
Tôn tông liệt Tổ tràn đầy thịnh hưng .

Hoa Sen .
Reply With Quote
Reply


Currently Active Users Viewing This Thread: 1 (0 members and 1 guests)
 
Thread Tools
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

vB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off
Trackbacks are Off
Pingbacks are Off
Refbacks are On