| ||||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
| 曲 江 憶 元 九 春 來 無 伴 閑 遊 少 行 樂 三 分 減 二 分 何 況 今 朝 荇 園 里 閑 人 逢 盡 不 逢 君 白 居 易 Khúc Giang Ức Nguyên Cửu Xuân lai vô bạn nhàn du thiểu Hành lạc tam phân giảm nhị phân Hà huống kim triêu hạnh viên lý Nhàn nhân phùng tận bất phùng quân Bạch Cư Dị (ở sông Khúc nhớ Nguyên Cửu) (xuân về, không có bạn, ta ít đi chơi) (ba phần vui chơi bớt đi hai phần) (đã vậy, sáng nay trong vườn hạnh) (gặp đủ mọi người rảnh tới đó mà không gặp anh) Ở Khúc Giang Nhớ Nguyên Cửu Chẳng thiết ngao du, vắng bạn bè Xuân về nào dạ có vui chi Sáng nay vườn hạnh đông người quá Chỉ thiếu riêng anh thật não nề SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 曲 江 春 感 江 頭 日 煖 花 又 開 江 東 行 客 心 悠 哉 高 陽 酒 徒 半 凋 落 終 南 山 色 空 崔 嵬 聖 代 也 知 無 棄 物 侯 門 未 必 用 非 才 滿 般 明 月 一 竿 竹 家 在 五 湖 歸 去 來 羅 隱 Khúc Giang Xuân Cảm Giang đầu nhật noãn hoa hựu khai Giang đông hành khách tâm du tai Cao Dương tửu đồ bán điêu lạc Chung Nam sơn sắc không thôi ngôi Thánh đại dã tri vô khí vật Hầu môn vị tất dụng phi tài Mãn thuyền minh nguyệt nhất can trúc Gia tại Ngũ Hồ quy khứ lai La Ẩn (cảm nghĩ mùa xuân tại Khúc Giang) (ở đầu sông nắng ấm hoa lại nở) (khách đi sông về hướng đông lòng buồn rầu) (nửa số bạn nhậu ở Cao Dương nay đã xác xơ và lưu lạc) (dáng núi Chung Nam vẫn cao chót vót) (đã biết ở triều đình không ai là vật bỏ đi) (thì ở cửa quan đâu có dùng kẻ bất tài) (trên thuyền đầy ánh trăng sáng, với một cần câu trúc) (về lại nhà ở Ngũ Hồ Cảm Nghĩ Mùa Xuân Tại Khúc Giang Nơi đầu sông nắng chói chang hoa nở Khách theo thuyền lòng buồn bã xuôi đông Tản mát rồi đán bạn cũ Cao Dương Chỉ riêng cảnh núi Chung Nam vẫn thế Nơi triều đình đâu có gì bỏ phế Thì cửa quan chả dụng kẻ bất tài Cùng cần câu bên trăng nước sáng ngời Thôi thì chốn Ngũ Hồ quay về lại SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 閨 怨 閨 中 少 婦 不 知 愁 春 日 凝 妝 上 翠 樓 忽 見 陌 頭 楊 柳 色 悔 教 夫 婿 覓 封 侯 王 昌 齡 Khuê Oán Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc Hối giao phu tế mịch phong hầu Vương Xương Linh (nỗi ân hận trong phòng riêng) (trong phòng riêng, người vợ trẻ chưa biết buồn) (ngày xuân, trang điểm xong nàng lên gác biếc) (chợt thấy sắc hoa dương liễu ở đầu đường) (nàng hối hận đã khuyên chồng mưu cầu quan tước) Vương Xương Linh Nỗi Lòng Phấn son đời chửa vương sầu Ngày xuân trang điểm, lên lầu ngắm hoa Chợt màu xanh liễu xa xa Gây lòng cô phụ nhạt nhòa nhớ thương Xui chàng kiếm nẻo quan trường.... SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 閨 怨 詞 關 山 征 戍 遠 閨 閣 別 離 難 苦 戰 應 憔 悴 寒 衣 不 要 寬 劉 禹 錫 Khuê Oán Từ Quan san chinh thú viễn Khuê các biệt ly nan Khổ chiến ưng tiều tụy Hàn y bất yếu khoan Lưu Vũ Tích (lời oán trong phòng the) (người lính ra ngoài biên ải xa xôi) (người ở lại phòng the khốn đốn trong nỗi cách chia) (chiến đấu gian khổ chắc thân hình khô héo) (áo lạnh mong không rộng quá) Lời Oán Trong Khuê Phòng Từ chàng biên ải xa xôi Biệt ly vàng võ mảnh đời phòng khuê Gian nan thân hạc não nề Thiếp mong áo lạnh vừa che thân gầy SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 閨 意 洞 房 昨 夜 停 紅 燭 待 曉 堂 前 拜 舅 姑 妝 罷 低 聲 問 夫 婿 畫 眉 深 淺 入 時 無 朱 慶 餘 Khuê Ý (Cận Thí Thướng Trưong Thủy Bộ) Động phòng tạc dạ đình hồng chúc Đãi hiểu tiền đường bái cữu cô Trang bãi đê thanh vấn phu tế Họa mi thâm thiển nhập thời vô Chu Khánh Dư (hỏi ý trong phòng riêng) (gần tới ngày thi trình quan Thủy Bộ họ Trương [bài này để hỏi ý]) (đêm qua trong phòng tân hôn đã tắt nến) (đợi sáng sẽ lên nhà trên lạy bố mẹ chồng) (trang điểm xong, khẽ hỏi chồng) (vẽ lông mày đậm hay lợt thì hợp thời?) Hỏi Ý Động phòng tắt ngọn đèn khuya Đợi bình minh rạng lạy thưa song đường Phấn son trang điểm trước gương Này mình... Nét liễu dễ thương không nào? SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 缺 題 道 由 白 雲 盡 春 與 清 溪 長 時 有 落 花 至 遠 隨 流 水 香 閑 門 向 山 路 深 柳 讀 書 堂 幽 映 每 白 日 清 煇 照 衣 裳 劉 脊 虛 Khuyết Đề Đạo do bạch vân tận Xuân dữ thanh khê trường Thời hữu lạc hoa chí Viễn tùy lưu thủy hương Nhàn môn hướng sơn lộ Thâm liễu độc thư đường U ánh mỗi bạch nhật Thanh huy chiếu y thường Lưu Tích Hư thiếu đầu bài (đường theo mây trắng hết [ở chân trời] ) ( xuân về trên suối trong và dài) (lâu lâu có hoa rụng bay tới) (làn hương thơm theo dòng nước đi xa) (cửa nhàn trông ra con đường vào núi) (nhà đọc sách có liễu che mát) (mỗi khi nắng lên có chỗ mát chỗ sáng) (phản chiếu trên quần áo) Bài Không Tên Nẻo đường mây trắng không cùng Suối xuân giải ngọc xanh trong chảy dài Lững lờ vài cánh hoa rơi Trôi theo dòng nước tỏa mùi hương thơm Theo đường núi ghé nhàn môn Lung lay nhánh liễu rủ buông thư phòng Vầng dương sáng tỏa chập chùng Ánh lên mầu áo sắc hồng chói chang Không Đề Đường cùng tận nơi cuối trời mây trắng Suối xanh lơ giữa xuân sắc mơ màng Cánh hoa rơi theo làn gió bay ngang Hương lan tỏa mơ hồ theo ánh nước Nhìn đường núi hướng cửa nhà mặt trước Liễu rủ buông che kín lối thư phòng Trời ban ngày ánh dương tỏa mông lung Tia nắng nhạt mơ hồ vương trên áo SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 見 螢 火 巫 山 秋 夜 螢 火 飛 疏 簾 巧 入 坐 人 衣 忽 驚 屋 裏 琴 書 冷 復 亂 簷 前 星 宿 稀 卻 繞 井 欄 添 箇 箇 偶 經 花 蕊 弄 煇 煇 滄 江 白 髮 愁 看 汝 來 歲 如 今 歸 未 歸 杜 甫 Kiến Huỳnh Hỏa Vu sơn thu dạ huỳnh hỏa phi Sơ liêm sảo nhập tọa nhân y Hốt kinh ốc lý cầm thư lãnh Phục loạn thiềm tiền tinh tú hi Khước nhiễu tĩnh lan thiêm cá cá Ngẫu kinh hoa nhị lộng huy huy Thương giang bạch phát sầu khán nhữ Lai tuế như kim quy bất quy Đỗ Phủ (xem đom đóm) (ở núi Vu, đêm Thu đom đóm bay ra) (chúng khéo bay lọt rèm thưa bậu vào áo người) (chợt ngán hơi lạnh từ đàn và sách) (chúng trở lại bay loạn trước thềm như sao sa) (đã đua nhau bay vòng quanh bờ giếng) (lại còn tình cờ đùa dỡn trong nhị hoa lấp lánh) (kẻ tóc bạc sông Thương buồn bã xem tụi bay) (chẳng biết năm tới ngày này có trở lại được không?) Xem Đom Đóm Núi Vu đom đóm lập lòe bay Khéo lọt rèm thưa đậu áo người Chắc sợ sách đàn phòng giá lạnh Ngoài thềm bay loạn ngỡ sao rơi ... Lập lòe cạnh giếng ánh chớp xanh Đùa bỡn bên hoa thật vô tình Đầu bạc bên sông sầu quạnh quẽ Liệu sang năm có tới vây quanh ? SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 乾 元 中 寓 居 同 谷 縣 作 歌 七 首 其 一 有 客 有 客 字 子 美 白 頭 亂 髮 垂 過 耳 歲 拾 椽 栗 隨 狙 公 天 寒 日 暮 山 谷 裡 中 原 無 書 歸 不 得 手 腳 凍 皴 皮 肉 死 嗚 呼 一 歌 兮 歌 已 哀 悲 風 為 我 從 天 來 杜 甫 Kiền Nguyên Trung Ngụ Cư Đồng Cốc Huyện Tác Ca Thất Thủ Hữu khách hữu khách tự Tử Mỹ Bạch đầu loạn phát thùy quá nhĩ Tuế thập tượng lật tùy thư công Thiên hàn nhật mộ sơn cốc lý Trung nguyên vô thư quy bất đắc Thủ cước đống thuân bì nhục tử Ô hô! Nhất ca hề ca dĩ tai Bi phong vị ngã tòng thiên lai Đỗ Phủ (làm 7 bài ca khi cư ngụ tại huyện Đồng Cốc thời niên hiệu Kiền Nguyên) (có gã, có gã tên tự là Tử Mỹ) (tóc trắng rối bù dài xuống quá tai) (cả năm đi theo người nuôi khỉ lượm trái tượng lật) (vào tuốt hang núi đến chiều tối giá lạnh) (không có thư từ trung nguyên lên mà về thì không được) (tay chân tê cóng, da thịt như chết) (Than ôi! Mới ca một lần mà đã ai oán) (gió thương cảm ta mà thổi từ trời xuống) Ghi chú: Năm 759 Đỗ Phủ dời gia quyến tới huyện Đồng Cốc (nay là huyện Thành, tỉnh Cam Túc) sống đời nghèo khổ. Kiền Nguyên là niên hiệu của vua Đường Túc Tôn (con Đường Minh Hoàng) Tử Mỹ là tên tự của Đỗ Phủ. Tượng lật là trái cây tựa như trái vải, hột như hột sen. Bẩy Bài Ca Làm Tại Đồng Cốc bài 1 Có một gã tên gọi là Tử Mỹ Đầu bạc phơ Tóc dài phủ quá tai Mỗi năm đi nhặt tượng lật cùng người Trong hang núi đêm tối mò lạnh giá Tin nhà vắng mà về thì xa quá Trời lạnh lùng da tím ngắt tái tê Than ôi! Tiếng ca buồn nghe ray rứt lê thê Gió gào thét cùng lời ta ai oán SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 乾 元 中 寓 居 同 谷 縣 作 歌 七 首 具 二 長 鑱 長 鑱 白 木 柄 我 生 託 子 以 為 命 黃 精 無 苗 山 雪 盛 短 衣 數 挽 不 掩 脛 此 時 與 子 空 歸 來 男 呻 女 呤 四 壁 靜 嗚 呼 二 歌 兮 歌 始 放 鄰 里 為 我 色 惆 悵 杜 甫 Kiền Nguyên Ngụ Cư Đồng Cốc Huyện Tác Ca Thất Thủ kỳ nhị Trường xàm trường xàm bạch mộc bính Ngã sinh thác tử dĩ vi mệnh Huỳnh tinh vô miêu sơn tuyết thạnh Đoản y sổ vãn bất yễm hĩnh Thử thời dữ tử không quy lai Nam thân nữ ngâm tứ bích tĩnh Ô hô! Nhị ca hề ca thủy phóng Lân lý vị ngã sắc trù trướng Đỗ Phủ (làm 7 bài ca khi cư ngụ tại huyện Đồng Cốc thời niên hiệu Kiền Nguyên) kỳ nhị (hỡi cuốc dài, cuốc dài có cán bằng gỗ trắng) (mạng sống của ta trông nhờ cả ở mi) (cỏ năng không có củ, tuyết núi lại rơi nhiều) (áo ngắn kéo hoài cũng không che được bắp chân) (lúc đó ta và mi về nhà tay không) (con trai , con gái rên lên vì đói trong bốn bức vách yên tĩnh) (Than ôi! Ca lần thứ hai, lời ca vừa phát) (bà con lối xóm thương ta mà vẻ mặt đều buòn bã) bài 2 Cuốc dài, cuốc ngắn Cán gỗ trắng mờ Cuốc ơi....nhờ cuốc ta no Tuyết giờ phủ ngập, cỏ co ngủ vùi Áo manh che chẳng tới đùi Trở về...ta, cuốc ngậm ngùi tay không Con rên rỉ Đói nằm cong Nghêu ngao than vãn nỗi lòng ngổn ngang Người quanh nghe cũng ngỡ ngàng SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |






Linear Mode