| ||||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
| 擣 衣 亦 知 戍 不 返 秋 至 拭 清 砧 已 近 寒 苦 月 況 經 長 別 心 寧 辭 擣 衣 倦 一 寄 塞 垣 深 用 盡 閨 中 力 君 聞 空 外 音 杜 甫 Đảo Y Diệc tri thú bất phản Thu chí thức thanh châm Dĩ cận hàn khổ nguyệt Huống kinh trường biệt tâm Ninh từ đảo y quyện Nhất ký tái viên thâm Dụng tận khuê trung lực Quân văn không ngoại âm Đỗ Phủ (đập áo) cũng đã biết người đi lính lâu trở về) (nên thu tới đã lau sạch đá đập áo) (nay tháng lạnh buốt đã cận kề) (lại nữa tấm lòng xa nhau đã lâu) (nên không còn thấy nhọc nhằn khi đập áo) (để gửi cho chàng nơi biên ải xa xôi) (thiếp đã đem hết sức mình trong phòng the) (vậy chàng có nghe tiếng đập vọng tới không?) Đập Áo Biết rằng người chẳng trở về Lau chầy đá sạch lòng nghe não nùng Tới rồi giá buốt mùa đông Thương chàng ngàn dặm lạnh lùng lắm khi Nhọc nhằn giặt áo đáng gì Mảnh tình gởi gấm người đi ấm lòng Tiếc gì cực phận má hồng Mong chàng cảm ý thiếp trong tiếng chầy SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 答 李 澣 林 中 觀 易 罷 溪 上 對 鷗 閒 楚 俗 饒 詞 客 何 人 最 往 還 韋 應 物 Đáp Lý Cán Lâm trung quan Dịch bãi Khê thượng đối âu nhàn Sở tục nhiêu từ khách Hà nhân tối vãng hoàn Vi Ứng Vật (hồi âm Lý Cán) (đọc Kinh Dịch ở trong rừng xong) (ta ra bờ suối hưởng nhàn với chim âu) (đất Sở có tục lệ trọng thi nhân) (thì ai là người sẽ luôn đến với ta ?) Trả Lời Lý Cán Kinh Dịch đã đọc xong rồi Ra bờ suối ngắm âu trời nhởn nhơ Tục Sở trọng giới làm thơ Nào ai là kẻ mộng mơ quanh mình SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 答 人 偶 來 松 樹 下 高 枕 石 頭 眠 山 中 無 歷 日 寒 盡 不 知 年 太 上 隱 者 Đáp Nhân Ngẫu lai tùng thụ hạ Cao chẩm thạch đầu miên Sơn trung vô lịch nhật Hàn tận bất tri niên Thái Thượng Ẩn Giả Trả lời người (tình cờ tới gốc cây thông) (gối cao đầu lên một phiến đá mà ngủ) (trong núi không có lịch coi ngày) (nên hết mùa lạnh rồi mà cũng chẳng biết năm gì) Trả Lời Người Ngả lưng dưới gốc thông già Gối đầu trên đá mộng qua giấc đầy Thâm sơn chẳng tháng cùng ngày Lạnh vừa qua hết chẳng hay năm nào SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 答 武 陵 太 守 仗 劍 行 千 里 微 軀 敢 一 言 曾 為 大 梁 客 不 負 信 陵 恩 王 昌 齡 Đáp Vũ Lăng Thái Thú Trượng kiếm hành thiên lý Vi khu cảm nhất ngôn Tằng vi Đại Lương khách Bất phụ Tín Lăng ân Vương Xưong Linh (trả lời qian Thái thú đất Vũ Lăng) (đã mang kiếm đi xa ngàn dặm) (kẻ hèn này dám thưa một lời) (rằng nếu đã là khách của thành Đại Lương xưa) (thì chẳng ai phụ ơn của Tín Lăng Quân đâu) Ghi chú: Vũ Lăng, ngày nay là huyện Thường Đức, tỉnh Hồ Nam. Đại Lương là cố đô của nước Ngụy thời Chiến Quốc, naythuộc tỉnh Hà Nam. Tín Lăng Quân là em An Ly Vương (vua nước Ngụy), ngụ tại Đại Lương. Tín Lăng Quân rất khiêm tốn và chiêu hiềnđãi sĩ rất hậu. Trả Lời Quyết vung gươm khắp phương trời Thân này chỉ dám một lời cùng quan Ơn xưa thành Đại Lương ban Chẳng ai phụ Tín Lăng Quân được nào SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 題 平 陽 郡 汾 橋 邊 柳 樹 此 地 曾 居 住 今 年 宛 自 歸 可 憐 汾 上 柳 相 見 也 依 依 岑 參 Đề Bình Dương Quận Phần Kiều Biên Liễu Thụ Thử địa tằng cư trú Kim niên uyển tự quy Khả liên Phần thượng liễu Tương kiến dã y y Sâm Tham (Thơ về cây liễu bên cầu sông Phần ở quận Bình Dương) (ta đã từng ở nơi này) (nên năm nay ta trở lại) (khá thương cho cây liễu trên bờ sông Phần) (gặp lại ta vẫn thấy như hồi nào) Ghi chú: quận Bình Dương, có sông Phần chảy qua, nay là huyện Phần, tỉnh Thiễm Tây. Đề Cây Liễu Bên Cầu Sông Phần Ở Quận Bình Dương Xưa ta đã ở nơi đây Hôm nay trở lại chốn này thăm qua Vẫn cây dương liễu la đà Bên sông ta, liễu như là ngày xưa SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 題 菊 花 颯 颯 西 風 滿 院 栽 蕊 寒 香 冷 蝶 難 來 他 年 我 若 為 青 帝 報 與 桃 花 一 處 開 黃 巢 Đề Hoa Cúc Táp táp tây phong mãn viện tài Nhị hàn hương lãnh điệp nan lai Tha niên ngã nhược vi thanh đế Báo dữ đào hoa nhất xứ khai Hoàng Sào ( thơ về hoa cúc) (gió tây thổi lồng lộng khắp tòa nhà) (khiến hoa [cúc] trong vườn lạnh lẽo bướm ngại tới) (năm nào ví như ta được làm chúa tể muôn hoa) (sẽ truyền cho [hoa cúc] nở cùng lúc với hoa đào [gió đông] Hoa Cúc Gió Tây lồng lộng rít quanh nhà Hương nhụy lạnh lùng bướm ngại qua Ví thử được trời phong hoa chúa Cho cùng khoe sắc với đào hoa SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 題 大 庾 北 驛 陽 月 南 飛 雁 傅 聞 至 此 回 我 行 殊 未 已 何 日 復 歸 來 江 靜 潮 初 落 林 昏 瘴 不 開 明 朝 望 鄉 處 應 見 隴 頭 梅 宋 之 問 Đề Đại Dữu Bắc Dịch Dương nguyệt nam phi nhạn Truyền văn chí thử hồi Ngã hành thù vị dĩ Hà nhật phục quy lai Giang tĩnh triều sơ lạc Lâm hôn chứng bất khai Minh triêu vọng hương xứ Ưng kiến lũng đầu mai Tống Chi Vấn (viết tại trạm nghỉ phía bắc núi Dữu Lớn) (cứ tới tháng 10 là chim nhạn bay về phía nam) (nhưng người ta nói chúng chỉ bay tới đây là quay về bắc) (ta đi vẫn chưa muốn thôi) (nên chưa biết ngày nào quay về) (mặt sông phẳng lặng, nước dòng bắt đầu rút) (rừng u tối vì chướng khí không tan) (ngày mai từ chỗ đứng vọng nhìn về hướng quê cũ) (hẳn là sẽ thấy khóm hoa mai mọc trên gò ruộng cao) Ghi chú: Đời Tấn có người họ Dữu đến khẩn hoang ở dãy núi nay thuộc phủ Triều Châu tỉnh Quảng Tây. Ông trồng mai phát triển thành rừng, và dãy núi đó đã mang tên ông là Dữu Lĩnh. Đại Dữu là quả núi lớn nhất trong dãy núi đó. Dương nguyệt: tháng 10 âm lịch Đề Nơi Trạm Bắc Đại Dữu Trời tháng mười, nhạn xuôi Nam tránh lạnh Đồn tới đây lại bay ngược trở về Riêng mình ta vẫn cứ miệt mài đi Đời mưa gió chẳng bao giờ định hướng Sông phẳng lặng, thủy triều vừa rút xuống Rừng tối tăm, chưóng khí quyện chưa tan Đợi sáng mai nhìn về phía xóm làng Hẳn thấy ngập sắc mai gò quanh đấy SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 題 東 溪 公 幽 居 杜 陵 賢 人 清 且 廉 東 溪 卜 築 歲 時 淹 宅 近 青 山 同 謝 眺 門 垂 碧 柳 似 陶 潛 好 鳥 迎 春 歌 後 院 飛 花 送 酒 舞 前 簷 客 到 但 知 留 一 醉 盤 中 衹 有 水 精 鹽 李 白 Đề Đông Khê Công U Cư Đỗ Lăng hiền nhân thanh thả liêm Đông Khê bốc trúc tuế thì yêm Trạch cận thanh sơn đồng Tạ Diễu Môn thùy bích liễu tự Đào Tiềm Hải điểu nghênh xuân ca hậu viện Phi hoa tống tửu vũ tiền thiềm Khách đáo đản tri lưu nhất túy Bàn trung chỉ hữu thủy tinh diêm Lý Bạch (viết về căn nhà Ông Đông Khê ở ẩn) (người hiền tài đất Đỗ Lăng đã thanh bạch lại liêm khiết) (dựng nhà bên suối Đông Khê ở ẩn đã lâu) (nhà gần bên núi xanh giống Tạ Diễu) (có dương liễu biếc rủ ngoài cửa giống Đào Tiềm) (chim hải âu hót mừng xuân đằng sau nhà) (trước thềm hoa bay như múa bên bàn rượu) (khách đến đều được giữ lại uống một chầu rượu) (trong mâm có độc một món muối trắng) Ghi chú: Đỗ Lăng: tên đất, ở đông nam thành Trường An, Lý Bạch có nhà ở đây trong thời gian giúp vua Đường Minh Hoàng. Tạ Diễu: người đời Lục Triều, nổi tiếng về thơ ngũ ngôn. Đào Tiềm: người đời Tấn, giỏi thơ văn, trước sân nhà có trồng 5 cây liễu. Nơi Ông Đông Khê Ở Ẩn Người Đỗ Lăng tiếng thanh liêm hiền đức Chọn Đông Khê làm nơi sống ẩn cư Giữa núi xanh tựa Tạ Diễu thủa giờ Cũng sân trước như nhà Đào liễu rủ Xuân trở lại đám hải âu về tụ Hoa chao bay lượn mời khách nâng ly Đãi khách xa ngoài rượu chẳng có gì Trên mâm độc chỉ một màu muối trắng SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 題 游 仙 閣 息 公 廟 仙 冠 輕 舉 竟 何 之 薜 荔 緣 階 竹 映 祠 甲 子 不 知 風 御 日 朝 昏 唯 見 雨 來 時 霓 旌 翠 蓋 終 難 遇 流 水 青 山 空 所 思 逐 客 自 憐 雙 鬢 改 焚 香 多 負 白 雲 期 李 嘉 祐 Đề Du Tiên Các Tức Công Miếu Tiên quan khinh cử cánh hà chi Tế lệ duyên giai trúc ánh từ Giáp tí bất tri phong ngự nhật Triêu hôn duy kiến vũ lai kỳ Nghê tinh thúy cái chung nan ngộ Lưu thủy thanh sơn không sở tư Trục khách tự lân song mấn cải Phần hương đa phụ bạch vân kỳ Lý Gia Hựu (thơ cho miếu Tức Công, quán Du Tiên) (rốt cuộc thì mũ tiên nhẹ nhõm đã bay đâu rồi) (chỉ còn cỏ hoang trên thềm và bụi trúc vàng bên miếu) (thời gian không biết tiên bay đi ngày nào) (còn không gian chỉ thấy mưa bay bay) (khó còn thấy lại cờ 5 màu và lọng xanh) (nhìn nước chảy, núi xanh mà suy tưởng lan man) (khách đi đày tự thương cho tóc mình đã bạc) (thắp nén hương tạ lỗi đã lỡ chuyến lên mây trắng rồi) Đề Miếu Tức Công, Quán Tiên Du Tìm đâu nữa cảnh mũ tiên phơi phới Có còn chăng đám cỏ mọc ven thềm Phản ánh vàng bụi trúc chiếu lên đền Đâu ai biết ngày nào tiên lướt gió Chỉ còn lại thoáng mưa bay đây đó Lọng biếc xanh, cờ ngũ sắc còn đâu Bâng khuâng theo núi biếc, nước qua cầu Kiếp đầy ải lúc tóc xanh điểm tuyết Lẫn trong mây...vẩn khói nhang hối tiếc SongNguyễn HànTú Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |






Linear Mode