| ||||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
| Ai vương tôn Nguyên tác: Đỗ Phủ 樂府 杜甫 哀王孫 長安城頭頭白烏, 夜飛延秋門上呼; 又向人家啄大屋, 屋底達官走避胡。 金鞭斷折九馬死, 骨肉不待同馳驅。 腰下寶玦青珊瑚, 問之不肯道姓名, 但道困苦乞為奴。 已經百日竄荊棘, 身上無有完肌膚。 高帝子孫盡隆準, 龍種自與常人殊。 豺狼在邑龍在野, 王孫善保千金軀。 不敢長語臨交衢, 且為王孫立斯須。 昨夜東風吹血腥, 東來橐駝滿舊都。 朔方健兒好身手, 昔何勇銳今何愚? 竊聞天子已傳位, 聖德北服南單于。 花門剺面請雪恥, 慎勿出口他人狙。 哀哉王孫慎勿疏, 五陵佳氣無時無。 Ai vương tôn Trường An thành đầu đầu bạch ô Dạ phi Diên Thu môn thượng hô Hựu hướng nhân gia trác đại ốc Ốc để đạt quan tẩu tị Hồ Kim tiên đoạn chiết cửu mã tử Cốt nhục bất đắc đồng trì khu Yêu hạ bảo quyết thanh san hô Khả liên vương tôn khấp lộ ngung Vấn chi bất khẳng đạo tính danh Đãn đạo cùng khổ khất vi nô Dĩ kinh bách nhật thoán kinh cức Thân thượng vô hữu hoàn cơ phu Cao Đế tử tôn tẫn long chuyết Long chủng tự dữ thường nhân thù Sài lang tại ấp long tại dã Vương tôn thiện bảo thiên kim khu Bất cảm trường ngữ lâm giao cù Thả vị vương tôn lập tư tu Tạc dạ đông phong xuy huyết tinh Đông lai thác đà mãn cựu đô Sóc phương kiện nhi hảo thân thủ, Tích hà dũng nhuệ kim hà ngu! Thiết văn thiên tử dĩ truyền vị, Thánh đức bắc phục Nam Thiền Vu. Hoa Môn ly diện thỉnh tuyết sỉ, Thận vật xuất khẩu tha nhân thư. Ai tai vương tôn thận vật sơ, Ngũ Lăng giai khí vô thời vô. Đỗ Phủ Nỗi Xa Xót Vương Tôn Nơi Trường An loài qụa đen đầu trắng Lúc trời đêm kêu loạn cửa Diên Thu Lại mổ hư những mái nóc dinh cơ Mà quan tướng sợ Hồ đều lánh cả Chín ngựa chết, roi vàng giờ tơi tả Ngay người thân cũng chẳng được theo cùng Chuỗi ngọc châu cài dấu ở bên lưng Thê thảm quá mắt vương tôn đẫm lệ Ai gạn hỏi, mím môi dìm thân thế Xin làm tôi cho qua cảnh khốn cùng Bao ngày rồi giữa gai góc hãi hùng Da rách nát chẳng chỗ nào lành lặn Dòng Cao Đế tướng mũi cao đầy đặn Cốt cao sang nên khác vẻ thường tình Tránh sói lang, rồng khổ lụy, điêu linh Giữa nguy khốn thân nghìn vàng khó giữ Chuyện dông dài chỉ ít lành nhiều dữ Thương vương tôn nên nán lại chút thôi Gió đêm qua sặc mùi máu tanh hôi Kinh đô cũ lạc đà đầy đường phố Đám quân Bắc thường can trường, giỏi võ Giữa trận tiền lại nhút nhát quá tồi Nghe đồn rằng Thiên tử đã truyền ngôi Nam Thiền đã nhìn Hán Quang bái phục Đám Hoa Môn rạch mặt thề rửa nhục Ráng giữ gìn đừng để lộ hành tung Xin vương tôn hãy cẩn trọng vô cùng Vượng khí vẫn trời Ngũ Lăng phảng phất NguyễnTâmHàn Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 恩賜麗正殿書院賜宴應得林字 張說 東壁圖書府 西園翰墨林 誦詩聞國政 講易見天心 位竊和羹重 恩叨醉醴深 載歌春興曲 情竭為知音 ân tứ lệ chính điện thư viện tứ yến ứng đắc lâm tự Trương Thuyết Đông Bích đồ thư phủ Tây viên hàn mặc lâm Tụng Thi, văn quốc chính Giảng Dịch, kiến thiên tâm Vị thiết hoà canh trọng Ân thao tuý lễ thâm Tài ca xuân hứng khúc Tình kiệt vị tri âm Cảm Ơn Vua Được Làm Ở Thư Viện Điện Lệ Chính, Cho Dự Tiệc, nhân Làm Thơ Gieo Vần Lâm Sách kho Đông Bích chứa đầy Ngày ngày học giả vườn Tây tụ về Việc triều chính luận Kinh Thi Bàn kinh Dịch kiếm hướng đi đạo trời Tài cao được trọng hơn người Rượu vua ban đãi khắp nơi ngập tràn Nghêu ngao Xuân hứng ca vang Dốc tình tặng tấm lòng vàng tri âm NguyễnTâmHàn Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| Bả tửu vấn nguyệt Nguyên tác: Lý Bạch 把酒問月 李白 青天有月來幾時,我今停杯一問之。 人攀明月不可得,月行卻與人相隨。 皎如飛鏡臨丹闕,綠煙滅盡清輝發。 但見宵從海上來,寧知曉向雲間沒。 白兔搗藥秋復春,嫦娥孤棲與誰鄰。 今人不見古時月,今月曾經照古人。 古人今人若流水,共看明月皆如此。 唯願當歌對酒時,月光常照金樽裡 Bả tửu vấn nguyệt Lý Bạch Thanh thiên hữu nguyệt lai kỷ thì , Ngã kim đình bôi nhất vấn chi! Nhân phan minh nguyệt bất khả đắc, Nguyệt hành khước dữ nhân tương tuỳ. Kiểu như phi kính lâm đan khuyết, Lục yên diệt tận thanh huy phát Đãn kiến tiêu tòng hải thượng lai, Ninh tri hiểu hướng vân gian một. Bạch thố đảo dược thu phục xuân, Thường nga cô thê dữ thuỳ lân. Kim nhân bất kiến cổ thì nguyệt, Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân. Cổ nhân kim nhân nhược lưu thuỷ, Cộng khan minh nguyệt giai như thử. Duy nguyện đương ca đối tửu thì, Nguyệt quang thường chiếu kim tôn lý. Nâng Chén Hỏi Trăng Này trăng, ta hỏi trăng nghe Trên trời một bóng đi về lâu chưa ? Ta nào tới được trăng mơ Mà trăng mãi vẫn đón đưa quanh người Cửa son ánh toả rạng ngời Khói xanh vừa biến, lả lơi ánh vàng Biết trăng từ biển trôi ngang Khi vừng dương tơí vội vàng ra đi Tháng ngày bóng thỏ ê chề Hằng Nga vàng võ đêm khuya một mình Ta, trần gian . . . chẳng vô tình Nhưng sao thấy được bóng hình trăng xưa Biết từ thiên cổ đến giờ Trăng vàng đã mãi say sưa cùng người Nhân gian tựa nước trôi xuôi Ngày qua tháng lại dưới trời cùng trăng Ca, say giữa cuộc mơ màng Trăng ơi ! mãi chiếu chén vàng dùm ta * NguyễnTâmHàn Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 北征 杜甫 皇帝二载秋, 闰八月初吉。 杜子将北征, 苍茫问家室。 维时遭艰虞, 朝野少暇日。 顾惭恩私被, 诏许归蓬荜。 拜辞诣阙下, 怵惕久未出。 虽乏谏诤姿, 恐君有遗失。 君诚中兴主, 经纬固密勿。 东胡反未已, 臣甫愤所切。 挥涕恋行在, 道途犹恍惚。 乾坤含疮痍, 忧虞何时毕! 靡靡逾阡陌, 人烟眇萧瑟。 所遇多被伤, 呻吟更流血。 回首凤翔县, 旌旗晚明灭。 前登寒山重, 屡得饮马窟。 邠郊入地底, 泾水中荡潏。 猛虎立我前, 苍崖吼时裂。 菊垂今秋花, 石戴古车辙。 青云动高兴, 幽事亦可悦。 山果多琐细, 罗生杂橡栗。 或红如丹砂, 或黑如点漆。 雨露之所濡, 甘苦齐结实。 缅思桃源内, 益叹身世拙。 坡陀望鄜畤, 岩谷互出没。 我行已水滨, 我仆犹木末。 鸱鸟鸣黄桑, 野鼠拱乱穴。 夜深经战场, 寒月照白骨。 潼关百万师, 往者散何卒? 遂令半秦民, 残害为异物。 况我堕胡尘, 及归尽华发。 经年至茅屋, 妻子衣百结。 恸哭松声回, 悲泉共幽咽。 平生所娇儿, 颜色白胜雪。 见爷背面啼, 垢腻脚不袜。 床前两小女, 补绽才过膝。 海图坼波涛, 旧绣移曲折。 天吴及紫凤, 颠倒在裋褐。 老夫情怀恶, 呕泄卧数日。 那无囊中帛, 救汝寒凛栗。 粉黛亦解包, 衾裯稍罗列。 瘦妻面复光, 痴女头自栉。 学母无不为, 晓妆随手抹。 移时施朱铅, 狼藉画眉阔。 生还对童稚, 似欲忘饥渴。 问事竞挽鬚, 谁能即嗔喝? 翻思在贼愁, 甘受杂乱聒。 新归且慰意, 生理焉得说! 至尊尚蒙尘, 几日休练卒? 仰观天色改, 坐觉妖氛豁。 阴风西北来, 惨澹随回纥。 其王愿助顺, 其俗善驰突。 送兵五千人, 驱马一万匹。 此辈少为贵, 四方服勇决。 所用皆鹰腾, 破敌过箭疾。 圣心颇虚伫, 时议气欲夺。 伊洛指掌收, 西京不足拔。 官军请深入, 蓄锐伺俱发。 此举开青徐, 旋瞻略恒碣。 昊天积霜露, 正气有肃杀。 祸转亡胡岁, 势成擒胡月。 胡命其能久, 皇纲未宜绝。 忆昨狼狈初, 事与古先别。 奸臣竟菹醢, 同恶随荡析。 不闻夏殷衰, 中自诛褒妲。 周汉获再兴, 宣光果明哲。 桓桓陈将军, 仗钺奋忠烈。 微尔人尽非, 于今国犹活。 凄凉大同殿, 寂寞白兽闼。 都人望翠华, 佳气向金阙。 园陵固有神, 扫洒数不缺。 煌煌太宗业, 树立甚宏达 Bắc chinh Hoàng đế nhị tải thu. Nhuận bát nguyệt sơ cát. Đỗ tử tương bắc chinh, Thương mang vấn gia thất. Duy chỉ tao gian ngu, Triều dã thiểu hạ nhật. Cố tâm ân tư bị, Chiếu hứa quy bồng tất. Bái từ giai khuyết hạ, Truật dịch cửu vi xuất. Tuy phạp gián tránh tư, Khủng quân hữu di thất. Quân thành trung hưng chủ, Kinh vĩ cố mật vật. Đông Hồ phản vị dĩ, Thần Phủ phẫn sở thiết. Huy thế luyến hành tại, Đao hồ do hoảng hốt. Càn khôn hàm sang di, Ưu ngu hà thì tất ? Mĩ mĩ du thiên mạch, Nhân yên diễu tiêu sắt. Sở ngộ đa bi thương, Thân ngâm cảnh lưu huyết. Hồi thủ Phụng Tường huyện, Tinh kỳ vãn minh diệt. Tiền đăng hàn sơn trùng, Lũ đắc ấm mã quật. Phần giao nhập địa để, Kinh thủy trung đãng duật. Mãnh hổ lập ngã tiền, Thương nhai hồng thì liệt. Cúc thủy kim thu hoa, Thạch đái cổ xa triệt. Thanh vận động cao hứng, U sự diệc khả duyệt. Sơn quả đa tỏa tế, La sinh tạp tượng lật. Hoặc hồng như đan sa, Hoặc hắc như điểm tất. Vũ lộ chi sở nhu, Cam khổ tề kết thực. Miến tư đào nguyên nội. ích thán thân thế chuyết ! Pha đà vọng Phu trĩ, Nham cốc hỗ xuất một. Ngã hành dĩ thủy tân, Ngã bộc do mộc mạt. Chi điểu minh hoàng tang, Dã thủ củng loạn huyệt. Dạ thâm kinh chiến trường, Hàn nguyệt chiếu bạch cốt. Đồng Quan bách vạn sư, Vãng giả tán hà thốt ? Toại linh bán Tần dân, Tàn hại vi dị vật. Huống ngã trụy Hồ trần, Cập quy tận hoa phát. Kinh niên chí mao ốc, Thê tử y bách kết. Đồng khốc tùng thanh hồi, Bi tuyền cộng u yết. Bình sinh sở kiêu nhi, Nhan sắc bạch thắng tuyết. Kiến gia bồi diện đề, Cấu nhị cước bất miệt. Sàng tiền lưỡng tiểu nữ, Bổ đỉnh tài quá tất. Hải đồ chiết ba đào, Cựu tú di khúc chiết. Thiên ngô cập tử phụng, Điên đảo tại đoản hạt. Lão phu tình hoài ác, ẩu tiết ngọa sổ nhật. Ná vô nang trung bạch, Cứu nhữ hàn lẫm lật. Phấn đại diệc giải bao, Khâm trù sảo la liệt. Sầu thê diện phục quang, Si nữ đầu tự trất. Học mẫu vô bất vi, Hiểu trang tùy thủ mạt. Di thì thi chu duyên, Lang tạ họa mi khoát. Sinh hoàn đối đồng trĩ, Tự dục vong cơ khát. Vấn sự cạnh vãn tu, Thùy năng tức sân hát ? Phiên tư tại tặc sầu, Cam thụ tạp loạn quát. Tân quy thả úy ý, Sinh lý yên đắc thuyết ! Chi tôn thượng mông trần, Kỷ nhật hưu luyện tốt. Ngưỡng quan thiên sắc cải, Tọa giác yêu phân khoát. Âm phong tây bắc lai, Thảm đạm tùy Hồi Ngột. Kỷ vương nguyện trợ thuận, Kỷ tục thiện trì đột. Tổng binh ngũ thiên nhân, Khu mã nhất vạn thất. Thử bối thiểu vi quý, Tứ phương phục dũng quyết. Sở dụng giai ưng đằng, Phá địch quá tiễn tật. Thánh tâm phả hư trữ, Thì nghĩ khí dục đoạt. Y Lạc chỉ chưởng thu, Tây kinh bất túc bạt. Quan quân thỉnh thâm nhập, Sức nhuệ khả câu phát. Thử cử khai Thanh Từ, Tuyền chiếm lược Hằng Kiệt. Hao thiên tích sương lô, Chính khí hữu túc sát. Họa chuyển vong Hồ tuế, Thế thành cầm Hồ nguyệt. Hồ mệnh kỳ năng cửu ? Hoàng cương vị nghi tuyệt ! ức tích lang bối sơ, Sư dữ cổ tiên biệt. Gian thần cánh tư hải, Đồng ác tùy đãng tích. Bất văn Hạ Ân suy, Trung tự tru Bao Đát ? Chu Hán hoạch tái hưng, Tuyên Quang quả minh triết. Hoàn hoàn Trần tướng quân, Trượng việt phấn trung liệt. Vi nhĩ nhân tận phi, U kim quốc do hoạt. Thê lương Đại Đồng điện, Tịch mịnh Bạch Thú thát. Đô nhân vọng thúy hoa, Giai khí hướng kim khuyết. Viên lăng cố hữu thần, Tảo soái số bất khuyết. Hoàng hoàng Thái Tông nghiệp, Thụ lập thậm hoằng đạt... Đỗ Phủ ***** Đi Miền Bắc *** Muà thu năm thứ hai Vua ngự trên ngai báu Được lên miền Bắc xa Nơi vợ con nương náu * Giữa gian khổ can qua Khó khăn khăp mọi nhà Riêng mình ân mưa móc Vua cho về thăm nhà * Lậy tạ trước bệ rồng Bước lui chẳng đành lòng Thân bề tôi chưa vẹn Đâu dám lời tôi trung * Vua là đấng con trời Trị muôn dân tuyệt vời Nhưng bọn Đông Hồ vẫn Quấy nhiễu mãi không thôi Khắp dân tình căm hận Lời oán than ngất trời * Đành gạt lệ bước đi Lòng vương vấn trăm bề Đất trời nhiều ngang trai Bao giờ hết nhiêu khê * Bước lầm lũi trên đồng Bếp nhà ai khói vương Người bị thương rên rỉ Máu loang lổ trên đường * Quay đầu nhìn Phụng Tường Bóng cờ giữa chiều buông Núi trập trùng trước mặt Nước vũng ngựa lỏng cương * Tới vùng trũng huyện Phần Sông Kinh chẩy ầm ầm Cọp lờn vờn trước mặt Rống vang dội sơn lâm * Cúc rũ giữa mùa thu Vết xe xưa rêu mờ Lòng lâng lâng niềm hứng Trời cao vút xanh lơ * Niềm vui giữa tịch liêu Cây rừng trái thật nhiều Dây leo xen quả dẻ Đen lẫn đỏ son điều * Thấm mưa nắng thuận hoà Ngọt đắng đều đơm hoa Tâm vời nguồn đào cũ Nghĩ mình thật vụng về * Gập ghềnh hướng châu Phu Hang ẩn hiện lờ mờ Tới ven bờ sông vắng Vừng dương hãy còn kia * Cú trong ruộng dâu vàng Chuột đùa giỡn trước hang Đêm đi qua chiến địa Trăng chiếu xương ngổn ngang * Trăm vạn quân Ải Đồng Bỗng một thoáng bại vong Khiến dân Tần một nửa Thành ma thật não nùng Thân ta bụi Hồ bám Trở về tóc pha sương * Nơi mái tranh bước về Nhìn vợ con thảm thê Áo quần vá trăm mảnh Cảnh bèo nheo não nề * Âm buồn tiếng suối reo Thằng con xưa cưng chiều Mặt xanh xao nhợt nhạt Quay mặt chả thèm theo Chân không đầy cáu ghét Bên chiếc giường vẹo xiêu Hai đứa con gái đứng Áo cũn cỡn tiêu điều * Vợ, aó cũ biển thêu Làn sóng đã gẫy nhiều Nét dọc ngang xô lệch Thiên ngô, phượng bèo nheo Trong áo manh mỏng ngắn Nhìn đau xót trăm chiều * Dù trong người chẳng yên Bị tả mấy hôm liền Cũng mở bao tặng lụa Bớt nỗi lạnh triền miên * Son phấn bọc trong khăn Mở ra bầy đầy chăn Nét sầu nàng tan biến Con chải đầu lăng xăng * Bắt chước mẹ điểm trang Phấn son bôi lổ loang Thỉnh thoảng chấm thoa sáp Chân mày vẽ bệt ngang * Được gần gũi con thơ Quên đói khát xác xơ Trẻ kéo râu đùa giỡn Đâu lỡ mắng con khờ * Sầu chinh chiến ngổn ngang Con dại phá chẳng màng Cùng vui ngày hội ngộ Việc sinh kế bỏ sang * Thương Thiên Tử lao đao Luyện quân bỏ được nào Nhìn trời mây tang hải Khí yêu quái dâng cao * Gió lạnh tây bắc qua Hồi Ngột giúp quân nhà Cùng quân mình liền cánh Binh họ giỏi xông pha * Chỉ khoảng năm ngàn quân Đoàn ngựa gấp hai lần Binh ít nhưng tinh nhuệ Họ kiên quyết bền gan * Quân tiến vụt như chim Phá giặc nhanh hơn tên Vua hết lòng tin cậy Mặc dư luận đang lên * Trở tay đã thu Y Tây Kinh đâu nề gì Quan quân thêm hừng chí Muốn cùng tiến một khi * Trận mở lối Thanh Từ Hằng Kiệt chiếm êm ru Trời móc sương trong sáng Chính khí lấn bóng mờ * Họa hết lúc tàn Hồ Thế vững lại như xưa Khí Hồ sao tồn được Trước kỷ cương nhà vua * Lúc thời buổi rối ren Việc khác xưa nào quen Bọn gian thần đền tội Lũ đồng lõa cũng tan * Chuyện Hạ Ân nguy nan Bọn Bao Đát tự tan Chu Hán lên dựng nghiệp Bậc tài có Tuyên Quang * Tướng Trần đấng anh hùng Ngọn giáo bừng khí trung Thiên hạ được bao kẻ Giang sơn còn nhờ ông * Điện Đại Đồng hoang liêu Cửa Bạch Thủ quạnh hiu Khắp hoàng thành ngóng đợi Vua về tiếng quân reo * Khu vườn lăng thiêng liêng Vẫn quét dọn thường xuyên Nghiệp Thái Tông hùng vĩ Công lớn rộng vô biên * NguyễnTâmHàn Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 白头吟 李白 锦水东北流,波荡双鸳鸯。雄巢汉宫 ,雌弄秦草芳。 宁同万死碎绮翼,不忍云间两分张。 时阿娇正娇妒, 独坐长门愁日暮。但愿君恩顾妾深, 惜黄金买词赋。 相如作赋得黄金,丈夫好新多异心。 朝将聘茂陵女, 文君因赠白头吟。东流不作西归水, 花辞条羞故林。 兔丝固无情,随风任倾倒。谁使女萝 ,而来强萦抱。 两草犹一心,人心不如草。莫卷龙须 ,从他生网丝。 且留琥珀枕,或有梦来时。覆水再收 满杯,弃妾已 去难重回。古来得意不相负,只今惟 青陵台。 Bạch đầu ngâm *** Cẩm thủy đông băc lưu Ba đãng song uyên ương Hùng sào Hán cung thụ Thư lộng Tần thảo phương Ninh đồng vạn tử toái ỷ dực Bất nhẫn vân gian lưỡng phân trương Thử thời A Kiều chính kiều đồ Độc toạ trường môn sầu nhật mộ Đản nguyệt quân ân cố thiếp thâm Khởi tích hoàng kim mãi từ phú Tương Như tác phú đắc hoàng kim Trượng phu hiếu tan đa dị tâm Nhất triêu tương sinh Mậu Lăng nữ Văn quân nhân tặng Bạch đầu ngâm Đông lưu bất tác tây quy thuỷ Lạc hoa từ điều tu cố lâm Thố ti cố vô tình Tuỳ phong nhiệm khuynh đảo Thuỳ sử nữ la chi Nhi lai cưỡng oanh bão Lưỡng thảo do nhất tâm Nhân tâm bất như thảo Mạc quyển long tu tịch Tòng tha sinh võng ty Thả lưu hổ phách chẩm Hoặc hữu mộng lai thì Phúc thuỷ tái thu khởi mãn bôi Khí thiếp dĩ khứ nan trùng hồi Cổ lai đắc ý bất tương phụ Chỉ kim duy kiến Thanh Lăng đài... ******* Dòng Cẩm Thủy chảy về miền đông bắc Cặp uyên ương theo sóng vỗ dạt sô Chú trống kìa . . . nơi cung Hán nhởn nhơ Đất Tần đấy. . . mái vui mùi thơm cỏ Dù phải chết vẫn bên nhau không bỏ Chẳng đành lòng ly biệt giữa trời mây Gương A Kiều cơn ghen thuở nào đây Rồi tàn tạ nơi Trường Môn hiu hắt Chỉ mong được đấng quân vương để mắt Từ phú nào đâu nuối tiếc bạc vàng Xưa Tương Như làm phú được giầu sang Nên danh phận mưu thay lòng đổi dạ Gái Mâu Lăng tính ngày đêm chung chạ Khiến Văn Quân tặng bài phú Bạch Đầu Đông hoặc tây, nước chảy một dòng sâu Hoa rơi rụng thẹn cùng rừng núi cũ Như thô ti theo gió đùa nghiêng ngả Cành nữ la vẫn ngày tháng quấn quanh Loài dây leo cũng còn vẹn ý tình Sao nhân thế lại không bằng cây cỏ Đừng cuốn lại. . . chiếu long tu để đó Hãy mặc cho những tơ nhện giăng đầy Cứ để yên gối hổ phách chớ thay Biết đâu đó đêm ru ta tình mộng Nước đã đỗ hốt vào sao đầy cóng Chia lìa rồi xum họp phải dễ đâu Trên đời này đắc ý chẳng phụ nhau Qua ngày tháng đài Thanh Lăng còn đấy NguyễnTâmHàn Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 七言古詩 岑參 白雪歌送武判官歸京 北風捲地白草折, 胡天八月即飛雪; 忽如一夜春風來, 千樹萬樹梨花開。 散入珠簾濕羅幕, 狐裘不煖錦衾薄。 將軍角弓不得控, 都護鐵衣冷猶著。 瀚海闌干百丈冰, 愁雲黲淡萬里凝。 中軍置酒飲歸客, 胡琴琵琶與羌笛。 紛紛暮雪下轅門, 風掣紅旗凍不翻。 輪臺東門送君去, 去時雪滿天山路; 山迴路轉不見君, 雪上空留馬行處 Bạch tuyết ca tống Vũ Phán quan quy kinh * Bắc phong quyển địa bạch thảo chiết Hồ thiên bát nguyệt tức phi tuyết Hốt như nhất dạ xuân phong lai Thiên thụ vạn thụ lê hoa khai Tán nhập châu liêm thấp la mạc Hồ cừu bất noãn cẩm khâm bạc Tướng quân giác cung bất đắc khống Đô hộ thiết y lãnh do trước Hãn hải lan can bách trượng băng Sầu vân ảm đạm vạn lý ngưng Trung tâm trí tửu ẩm quy khách Hồ cầm tỳ bà dữ Khương địch Phân phân mộ tuyết hạ viên môn Phong chế hồng kỳ đống bất phiên Luân đài đông môn tống quân khứ Khứ thời tuyết mãn Thiên Sơn lộ Sơn hồi lộ chuyển bất kiến quân Tuyết thượng không lưu mã hành xứ Sầm Tham * Bài hát Tuyết Trắng đưa Vũ Phán quan về kinh Cỏ tàn tạ giữa heo may Xứ Hồ tháng tám tuyết bay ngập trời Gió Xuân chỉ một đêm thôi Ngàn hoa lê nở khắp nơi lan tràn Hoa bay bám ướt rèm màn Áo cừu, chăn gấm chẳng làm ấm thân Giương cung thiếu sức, soãi gân Giáp y lạnh toát vẫn quanh thân mình Ven bờ băng đá mông mênh Mây mù ảm đạm xây thành trời xa Tiệc chia tay đãi khách về Tì bà, Khương sáo, tỉ tê đàn Hồ Tuyết rơi chiều xuống lờ mờ Cờ hồng đóng đá cứng đơ lạnh lùng Luân Đài đưa tiễn bước ông Thiên Sơn băng giá, khắp vùng tuyết sa Đường quanh co nhận chẳng ra Mờ mờ dấu ngựa bước qua lu dần * NguyễnTâmHàn Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| 百憂集行 杜甫 憶年十五心尚孩 健如黃犢走復來 庭前八月梨棗熟 一日上樹能千回 即今倏忽已五十 坐臥只多少行立 強將笑語供主人 悲見生涯百憂集 入門依舊四壁空 老妻睹我顏色同 痴兒未知父子禮 叫怒索飯啼門東 Bách ưu tập hành *** Ức niên thập ngũ tâm thượng hài Kiện như hoàng độc tẩu phục lai Đình tiền bát nguyệt lê tảo thục Nhất nhật thượng thụ năng thiên hồi. Tức kim thúc hốt dĩ ngũ thập Tọa ngọa chỉ đa, thiểu hành lập Cưỡng tương tiếu ngữ cung chủ nhân Bi kiến sinh nhai bách ưu tập. Nhập môn y cựu tứ bích không Lão thê đổ ngã nhan sắc đồng Si nhi vị tri phụ tử lễ Khiếu nộ sách phạn đề môn đông. Đỗ Phủ ******* Trăm Nỗi Lo Dồn *** Nhớ cái thuở thân trai đang độ lớn Như bê con suốt ngày chạy lăng xăng Trời tháng tám trước sân lê táo chin Trèo lên cây ngày dễ cả nghìn lần … Thấm thoắt đó mà giờ năm mươi tuổi Biếng đứng đi, thân chỉ muốn nằm, ngồi Phải gượng gạo nói cười chiều lòng chủ * Trăm điều lo thật rầu rĩ khôn nguôi … Nhà sau trước bốn vách không, trống rỗng Nét u sầu chồng vợ đứng nhìn nhau Con còn dại nào hay điều nghiệt ngã Khóc đòi ăn nơi cửa nghĩ thêm rầu NguyễnTâmHàn * Ý chỉ chủ nhà Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| Bản kiều lộ Nguyên tác: Bạch Cư Dị 板橋路 白居易 梁苑城西二十里, 一渠春水柳千條。 若為此路今重過, 十五年前舊板橋。 曾共玉顏橋上別, 不知消息到今朝。 Bản kiều lộ Lương uyển thành tây nhị thập lý , Nhất cừ xuân thủy liễu thiên điều. Nhược vi thử lộ kim trùng quá, Thập ngũ niên tiền cựu bản kiều. Tằng cộng ngọc nhan kiều thượng biệt, Bất tri tiêu tức đáo kim triêu. Bạch Cư Dị Đường cầu ván Ngoài hai mươi dặm Vườn Lương Suối Xuân róc rách liễu vương tơ sầu Giờ ngang lối cũ lòng đau Mười lăm năm trước trên cầu cùng ai Phút chia tay luống ngậm ngùi Người xưa biền biệt phương trời nào đâu NguyễnTâmHàn Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
| ||||
| Bành Nha hành Ức tích tỵ tặc sơ Bắc tẩu kinh hiểm gian Dạ thâm Bành Nha đạo Nguyệt chiếu Bạch Thủy sơn Tận thất cửu đồ bộ Phùng nhân đa hậu nhan Sâm si cốc điểu ngâm Bất kiến du tử hoàn Si nữ cơ giảo ngã Đề úy hổ lang văn Hoài trung yểm kỳ khẩu Phản trắc thanh dũ sân Tiểu nhi cưỡng giải sự Cố sách khổ lý xan Nhất tuần bán lôi vũ Nê nính tương khiên phan Ký vô ngự vũ bị Kính hoạt y hựu hàn Hữu thì kinh khế khoát Cánh nhật sổ lý gian Dã quả sung hầu lương Ty chi thành ốc duyên Tảo hành thạch thượng thủy Mộ túc thiên biên yên Thiểu lưu Đồng Gia oa Dục xuất Lô Tử quan Cố nhân hữu Tôn tể Cao nghĩa bạc đằng vân Diên khách dĩ huân hắc Trương đăng khải trùng môn Noãn thang trạc ngã túc Tiễn chỉ chiêu ngã hồn Tòng thử xuất thê noa Tương thị thế lan can Chúng xồ lạn mạn thụy Hoán khởi triêm bàn tôn Thệ tương dữ phu tử Vĩnh kết vi đệ côn Toại không sở hạ đường An cư phụng ngã hoan Thùy khẳng gian nan tế Khoát đạt lộ tâm can? Biệt lai tuế nguyệt chu Hồ kiệt nhưng cấu hoạn Hà đương hữu xí linh Phi khứ trụy nhĩ tiền. Đỗ Phủ Bài Hành Bành Nha Nhớ khi thời tránh giặc Nơi miền bắc hiểm nghèo Bành Nha đêm khuya khoắt Trăng Bạch thủy hắt hiu ….. Bao ngày dài lếch thếch Gặp người qua ngượng ngùng Trong hang chim kêu loạn Đi xa người vẫn trông ……… Con đói nhè mình cắn Mím môi chẳng dám la Sợ hùm beo nghe tiếng Bụng ép miệng con thơ ………… Con nhỏ càng gào thét Anh nó hiểu biêt hơn Chỉ xin dù mận đắng Để được ăn thay cơm ……… Sấm chớp mưa ròng rã Dắt nhau giữa bùn lầy Áo che mưa chẳng có Đường trơn, lạnh thảm thay …………. Ngày đi được vài dặm Quả rừng ăn đỡ lòng Lấy lá che mưa nắng Sớm lội, tối nằm sương ……….. Ghé Đồng Gia ít bữa Đường Lô Tử còn xa Gặp ông Tôn quen biết Người giầu lòng vị tha ……… Mời vào giữa đêm tối Cửa mở đèn giong cao Đãi rửa chân nước ấm Giấy hú vía lao xao ………. Vợ con cùng giới thiệu Nhìn nhau lệ tuôn trào Trẻ mệt ngủ lây lất Gọi dậy chén cơm trao ………… Từ đấy ta với bác Đã kết nghĩa đệ huynh Phòng khách được dọn dẹp Cho ỡ trọn nghĩa tình ……… Giữa gian nan trần thế Kiếm đâu lượng hải hà Giờ tròn năm xa cách Vì Hồ vẫn can qua …….. Mơ phải chi mọc cánh Bay tới viếng Tôn ca NguyễnTâmHàn Ta chợt thấy lòng nhớ cố hương Hồn vương theo gió mờ nhân ảnh Một khúc ly hương mấy đoạn trường |
![]() |
| Currently Active Users Viewing This Thread: 1 (0 members and 1 guests) | |
| Thread Tools | |
| Display Modes | |
| |
Similar Threads | ||||
| Thread | Thread Starter | Forum | Replies | Last Post |
| Cảnh Xưa Người Cũ-Nguyên tác của Nguyễn Thị Phi Oanh | Tocnautigon | Trọn Bộ | 30 | 01-07-2007 09:36 PM |







Linear Mode
